Vườn Xưa- thơ Tế Hanh
Posted by tnqn on 02/11/2007
Vườn Xưa
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?
Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?
Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.
Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về hái ổi
Em ngước nhìn vòm cây gió thổi
Lá như môi khẽ gọi anh về.
Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa…
Tế Hanh

















sUnNy đã nói
ba`i tho na`y that hay va mang 1 noi buon xa cach ! nhung 2 trai tim luon huong ve nhau !
luc đã nói
Bai nầy người yêu gởi tăng cho mình từ nhũng năm 1978, bây giờ không còn gặp cô ấy nữa. Buồn ghê…..
Nguyen Thanh đã nói
Đọc bài thơ này, tôi bỗng dưng muốn khóc!
Đào Văn Lực đã nói
Mình với cô bạn gái của mình nó cũng na ná như bài vườn xưa, những năm 78 kinh tế vùng quê mình khó khăn lắm, tình cảm riêng tư luôn nén trong lòng và vẫn tin rằng có ngày sẽ cùng trở lại vườn xưa. Tiếc rằng đến bây giờ đã 35 năm mình vẫn chưa cùng cô ấy về lại vườn xưa lần nào.
Rất mong Côi của anh sẽ đọc được những dòng nầy.
Đào Văn Lực đã nói
Ngày xưa Quê anh là nơi Côi làm việc, Quê Côi là nơi anh đi học. ( Côi làm việc trước anh ). Cứ đến ngày chủ nhật anh về quê anh ( Về xin tiền chứ ), Côi về quê Côi và như thế chẳng làm sao gặp được ( Thỉnh thoảng mới hẹn gặp được một lần ). Anh thường đến nhà Côi chơi khi đi học, Côi cũng vậy thường đền nhà anh khi làm việc. Đến nhà nhau thường chỉ nói chuyện với bà già chú có gặp nhau đâu. Môt lần anh nhận được thư Côi, không biết Côi tìm đâu bài thơ chép cho anh mà đến bây giờ anh vẫn còn nhớ, bài thơ hơi buồn, đã trên 30 năm, anh vẫn chưa mỡt lần cùng Côi trở lại Vườn xưa.
VƯỜN XƯA
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?
Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?
Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua
Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thì gọi anh về
Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?
TRẦN NGỌc HƯỞNG đã nói
Đọc VƯỜN XƯA của Tế Hanh
* Nhà thơ TRẦN NGỌc HƯỞNG
“Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?
Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao Hôm sao Mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?
Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim em đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.
Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Là như môi thầm thĩ gọi anh về.
Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ”
(1975)
Một nét phong cách thơ Tế Hanh là cảm xúc chân thực và cách diễn đạt cũng rất chân thực bằng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên và rất giàu hình ảnh. Thơ ông là một tiếng nói nhỏ nhẹ, hiền lành, bình dị mà tha thiết nên rất dễ đi vào lòng độc giả một cách tự nhiên và sâu sắc.
Có thể lấy bài thơ Vườn xưa trên đây làm một ví dụ tiêu biểu.
Đây là một bài thơ chủ yếu là tám tiếng, có đôi câu bảy và chín tiếng xen cài vào. Khổ thứ nhất được lập lại thành khổ thứ sáu. Trong sáu khổ thơ, tình yêu đôi lứa, tình mẹ con, tình quê hương hòa quyện vào nhau.
Nổi bật hơn cả, bài thơ là một khúc tình ca với nhân vật chính là hai ta : anh và em. Đôi lứa này do ở hai đầu công tác nên luôn phải cách biệt nhau. Họ cùng nuối tiếc nhớ thương ngày tháng đã qua và chung một lời tự hỏi: “Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa”?
Ý tưởng vừa nói cũng được thể hiện nay trong khổ thơ mở đầu
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?
Hai câu đầu đặt theo lối đối sách bộc lộ sức mạnh của thời gian. Chính thời gian đã làm cho cây cối ngày mỗi xanh thêm, tốt tươi, sầm uất thêm. Cùng chính thời gian đã làm tóc bà mẹ mỗi ngày mỗi bạc thêm, xơ xác, già nua thêm. Đó là quy luật tự nhiên không sao thay đổi được. Hai câu sau nêu lên hoàn cảnh cách biệt của đôi lứa và bày tỏ một ước mơ, một hy vọng được gặp lại, được “cùng trở lại vườn xưa”.
Cũng chính sức mạnh của thời gian đã làm ước mơ hy vọng nói trên của lứa đôi này trở nên xa xôi khó thực hiện, có bao giờ mà cứ tưởng như chẳng bao giờ. Câu thơ này được lặp lại đến những ba lần cũng chính là tình điệu chủ yếu của bài thơ.
Bởi thế hai khổ thơ tiếp đó chẳng qua là tác giả minh họa cho rõ thêm tình điệu vừa nói bằng các phép so sánh :
Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao Hôm sao Mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?
Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim em đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua.
Rất nhiều phép so sánh đã được sử dụng ở đây để không những nhấn mạnh vào sự xa cách của đôi lứa mà còn thể hiện một cách sinh động tài tình trạng thái của tâm hồn, một trạng thái bất an, bức rứt, băn khoăn của con người trong tình huống muốn gặp lại người thương nhưng thật khó. Cái khó đó chẳng khác nào ngày nắng/ ngày mưa, mặt trăng/ mặt trời, sao Hôm/ sao Mai, sen mùa hạ/ cúc mùa thu, tháng mười hồng/ tháng năm nhãn, đi về tháng tám/ tháng ba qua. Nhà thơ đã so sánh cái khó đó cùng các hiện tượng trong vũ trụ phải chăng muốn ngầm nói đó là quy luật, là định mệnh … Cách so sánh ví von trên đậm chất dân gian đặc biệt là hai câu cuối khổ thơ sau : Em theo chim em đi về tháng tám. Anh theo chim cùng với tháng ba qua” khiến độc giả không khỏi nghĩ đến lời tục ngữ : “Tháng tám chim qua/ tháng ba chim về”.
Đoạn tiếp đó thật ra cũng chỉ để làm rõ đoạn trên :
Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thĩ gọi anh về.
Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh.
Phép trùng lặp, phép đối xứng được sử dụng nhiều trong bài thơ này đặc biệt là hai khổ thơ trên đây : một ngày xuân, một ngày hè, em trở lại, anh trở lại, em nhìn lên ngọn cây, anh nhìn giếng, lá như môi, nước như giếng … Hai khổ thơ ghi lại những kỷ niệm cũ của hai người để cho thấy là họ khó có thể gặp nhau. Bởi lẽ tuy cả hai người đều đã có lần trở về vườn xưa nhưng kẻ về trước, người về sau chứ không được cùng về một lúc để được gặp nhau. Những hình ảnh anh hái ổi, lá như môi, em bên giếng giặt, nước như gương soi lẻ bóng hình anh … vừa trẻ trung chân thực vừa hồn nhiên gần gũi biết bao. Thấp thoáng trong bài thơ luôn có hình ảnh bà mẹ. Tuy nhà thơ rất kiệm lời về bà (hai lần “tóc mỗi ngày mỗi bạc” và hai lần nghe mẹ nói) nhưng độc giả vẫn hình dung ra được một cụ bà hiền từ nhân hậu. Bà cũng chính là người làm chứng cho cuộc tình của đôi lứa đôi này, một cuộc tình thủy chung, tuy đẹp mà buồn. Những phút giây họ đã quấn quýt bên nhau chan hòa hạnh phúc lứa đôi và cả những phút giây từng người đã về đây nhớ thương tiếc nuối :nhìn lên ngọn cây gió thổi, nhìn giếng, giếng sâu trong vắt” đều có mặt bà. Bà mẹ già như một ngọn lửa nhỏ nhen nhóm ít nhiều cũng làm ấm lại lòng của cô gái, của chàng trai và làm nồng ấm cả bài thơ xinh xắn.
Sau cùng, tác giả lặp lại khổ thơ đầu để kết thúc bài thơ :
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa”?
Vẫn là một lời tự hỏi đầy khát khao tha thiết của sự bâng khuâng khắc khoải muốn được “cùng trở lại vườn xưa” với người yêu. Vườn xưa, nhan đề bài thơ, phải đâu chỉ là một khu vườn nhỏ đầy “hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim” (Từ ấy, Tố Hữu) mà đây có thể là một khung cảnh, một thời khoảng trăng mật của tuổi thanh niên, một thời êm đềm nồng đượm. Trước quy luật khắc nghiệt của thời gian, tất cả rồi đều sẽ tàn phai kể cả hạnh phúc của người làm chứng cho năm tháng hạnh phúc kia. Ngọn sóng thời gian sẽ cuốn hút tất cả đúng như một thi sĩ nào đó viết :
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi
( Hoài Khanh )
Tất cả chỉ còn là hoài niệm. Một lần hoài niệm là một lần được sống lại tuy không trọn vẹn như hương sắc thuở ban đầu. Hoa đã thành hoa khô. Bướm đã là bướm ép nhưng dẫu sao đó vẫn là quà tặng dành cho những ai là người nhân hậu thủy chung.
Như đã nói, Vườn xưa đúng là một bài thơ hay của Tế Hanh, một bài thơ khá tiêu biểu cho nét phong cách thơ ông : cảm xúc rất chân thực mà cách diễn đạt cũng rất chân thực, bằng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên và rất giàu hình ảnh như đã nêu lên ở phần đầu bài viết này …
Trần Ngọc Hưởng
Tri Nhan đã nói
Tế Hanh
Vài nét tiểu sử
Tế Hanh họ Trần, sinh 1920. Tác phẩm chính Nghẹn ngào, sau đổi là Hoa niên (1945), Tiếng sóng (1960), Theo nhịp tháng ngày (1974) v.v…
Đi suốt bài ca
Sự có mặt thường xuyên của các thi sĩ tiền chiến trong đời sống tinh thần của thế kỷ XX rõ rệt đến mức đôi lúc người ta quên rằng họ đã bắt đầu sự nghiệp với phong trào Thơ mới từ những năm ba mươi và nhiều người trong họ, Thế Lữ và Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư và Chế Lan Viên… đã trở thành người thiên cổ. Nhưng cũng chính vì thế mỗi thi sĩ tiền chiến còn sống là cả một pho sử quý báu.
Phát hiện cuối cùng của Tự Lực văn đoàn.
Kim tiền của Vi Huyền Đắc và Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Làm lẽ của Mạnh Phú Tư và Bức tranh quê của Anh Thơ… trong một ít năm mà giải thưởng Tự Lực văn đoàn tồn tại (từ 1935 đến 1939), những người thuộc văn đoàn đó là làm một cuộc sàng lọc khá chính xác, khẳng định được một số tác giả, tác phẩm còn lại với thời gian. Và một trong những dấu chấm hết của các giải đầy sức thuyết phục nó là tập Nghẹn ngào của Tế Hanh. Sự đi lại gần gũi giữa nhà thơ quê Quảng Ngãi này với những người như Xuân Diệu, Huy Cận vào những năm ấy đã phần nào giải thích việc Nghẹn ngào được tặng thưởng: ông thuộc về cái dòng thơ mà Tự Lực văn đoàn ủng hộ. Sau khi công bố giải, Nhất Linh còn viết mấy dòng tiên tri về tác giả Nghẹn ngào như sau:
“Tế Hanh có rất nhiều hứa hẹn trở nên một thi sĩ có tài, ông có một linh hồn rất phong phú, có những rung động rất sâu sắc; và để diễn tả tâm hồn, ông có đủ nghệ thuật và cách đặt tìm câu chữ. Ông chỉ còn chờ thời gian để gặp được nhiều cảnh và viết thêm được nhiều bài thơ hay”.
Những năm gắn bó với cách mạng và kháng chiến.
Nhưng thi phẩm trình làng của Tế Hanh – sau đổi là Hoa niên và được nhà Đời nay cho xuất bản năm 1944 – chưa kịp đến tay tác giả thì những biến chuyển lớn lao đã đến và Tế Hanh đã kịp nhập vào cơn lốc vĩ đại ấy.
Năm 1946, ông ra Hà Nội họp Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông có mặt trong Đoàn văn hóa kháng chiến rồi Chi hội văn nghệ Khu Năm. Thói quen làm thơ thường trực khiến cho Tế Hanh, ngay trong bước rẽ ngoặt đầy khó khăn của cách mạng, vẫn viết được một tập thơ nhỏ.
Nhưng thời gian đắc ý nhất với Tế Hanh chỉ bắt đầu khi từ Khu Năm, ông ra tập kết ở Hà Nội. Từ 1954-86, trong khoảng hơn ba chục năm ấy ông là một trong những cây bút hàng đầu của nền thơ. Khoảng trung bình dăm ba năm, ông lại có một tập thơ được in ra, về sau tổng cộng (kể cả thơ viết cho thiếu nhi) đã lên tới con số gần hai chục. Năm 1987, Tuyển tập chính thức của Tế Hanh ra đời. Tổng cộng 408 trang, cả thảy 250 bài thơ đã được tuyển chọn.
Ngoài thơ, Tế Hanh cũng viết tiểu luận, nhưng không được phong phú và khó lòng nói là tạo được bản sắc riêng. Đóng góp nhiều hơn của ông là dịch thuật. Sự thực ở đây ông chỉ làm một phần, ngoài ra nhờ người cộng tác. Được cái, Tế Hanh đã dịch ai là dịch rất thoát. Có khi – như ở trường hợp Puskin – cả tập thơ dịch là của người khác, nhưng bài thơ hay nhất lại là của Tế Hanh.
Trong nhiều năm, Tế Hanh có chân trong Ban chấp hành Hội Nhà văn; ông cũng đã qua đủ thứ công việc, khi phụ trách báo, khi làm xuất bản. Nhưng nói tới ông, người ta thường quên hết mọi chức vụ để chỉ nhớ rằng đó là một nhà thơ.
Một dòng thơ liên tục và một giọng điệu riêng.
Với đa số độc giả, Tế Hanh đã được quen biết từ mấy bài thơ nhỏ mà Hoài Thanh đã chọn ra, khi làm tập Thi Nhân Việt Nam 1932-41: Quê hương, Lời con đường quê, Vu vơ. Cái mạch thơ còn hơi hướng học trò, nghĩa là hơi buồn buồn nhưng không đến nỗi ủ rũ ấy, sẽ được nhà thơ đẩy lên trong những bài thơ viết hồi mới tập kết ra Bắc: Nhớ con sông quê hương, Vườn xưa, Bài thơ tình ở Hàng Châu. Đây là mấy câu trong bài Vườn xưa.
“Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng tỏ
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa
Hai ta như sen mùa hạ, cúc mùa thu
Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn
Em theo chim em bay về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua”
Không chỉ những cặp tình nhân tìm thấy ở đấy trường hợp của mình, mà nhiều người đọc khác, bắt gặp trong câu thơ, những vui buồn hàng ngày đã trải. Nói chung, suốt thời gian 1945 – 1975, qua việc khai thác những oái oăm ngang trái trong tình cảm nẩy sinh từ việc đất nước bị chia cắt, Tế Hanh đã tạo nên được cả một mạch thơ buồn, nó là một thành phần tự nhiên của tình cảm con người, tuy rằng bao giờ nó cũng mang bóng dáng riêng tư của thời đại.
Nhưng Tế Hanh không dừng lại ở đó. Là một nhà thơ chuyên nghiệp, ông có thơ về tất cả, về một chuyến đi nước ngoài, gặp lại những hình ảnh xưa chỉ thấy trong văn chương, những bóng liễu, nhân đó nghĩ về tác dụng của thơ đối với đời sống mỗi người (Chắc gì mắt em như lá liễu – Đã cắt lòng anh một nét dao); về một việc thời sự: tên lửa Liên Xô đưa vệ tinh lên Mặt trăng (Đi vào vũ trụ bao la – Liên Xô anh cả của chúng ta mở đường), về những nông trường xí nghiệp mới mở mang khai khẩn (Nông trường ta rộng mênh mông – Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài). ấy là không kể bao nhiêu thơ khác, thơ về một tuyến đường sắt mới khai trương, một mùa bội thu ở một hợp tác xã, về những ngày Hà Nội sơ tán… Mấy chục năm qua đi, có thể đến nay, người ta sẽ ngạc nhiên tự hỏi: làm sao mà những chuyện ấy thành thơ được? Nhưng đúng là cái hồi ấy, nhiều người chúng ta đã xúc động trước những sự kiện kiểu ấy, và nhiều bài thơ tương tự như thơ Tế Hanh, đã trở nên thức ăn tinh thần cho mọi người. Khác với những Xuân Diệu hoặc Chế Lan Viên nói cái gì là nói đến cùng, giọng thơ Tế Hanh thường từ tốn lưng chừng và ông lại có được sự chín riêng trong cái lưng chừng ấy. Không quá chau chuốt, không gò thắt kỹ lưỡng, thơ Tế Hanh có sức truyền cảm riêng, do cái vẻ hồn nhiên bột phát của nó.
Tổng kết đời mình là chuyện nhiều người khi bước vào tuổi già, thường ao ước. Nhưng cái đáng yêu ở Tế Hanh là ông không giấu diếm những lúng túng, những bất lực khi phải làm việc tổng kết phiền phức ấy.
Đời tôi thực hay mộng?
Đời tôi buồn hay vui?
Và thế là ông buột ra cái kết luận ngang ngang, giống như một thách thức
Đời tôi là cuộc sống
Đời tôi là đời tôi
Vâng, dù sướng vui đau khổ thế nào, thì mỗi chúng ta có một số phận, số phận ấy đơn nhất độc đáo, nó là vậy như cuộc đời này đã là vậy, và mỗi khi hồi tưởng quá khứ, lòng người ta thường ngổn ngang trăm mối.
Những ngày buồn nghĩ lại thấy vui vui
Những ngày vui sao bỗng thấy bùi ngùi
Tế Hanh sống được trong lòng một số độc giả là ở những câu thơ diễn tả tình cảm nước đôi tế nhị ấy.