Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

    Dancing With The Clouds

    The common snipe (Gallinago gallinago)

    Contemplating Brown Hare

    Alone

    Vantage Breckenridge

    City Gems I

    let your life speak. (an homage to spring.)

    Hatley Park at Royal Roads University

    Jack

    _Under the bridge_

    More Photos
  • Tổng lượt xem

    • 392,221 Lượt

LUỘC CẢI NGỒNG Thơ Phạm Dương

Posted by thinhanquangngai1 on 04/04/2015

                                     LUỘC CẢI NGỒNG

Nhớ quê luộc ngọn cải ngồng
Nấu nồi canh hẹ cho lòng nguôi ngoai
Vị quê cải đắng ,hẹ cay
Theo tôi suốt những tháng ngày ly hương
Nhớ quê tìm miếng kẹo gương
Dừng chân quán võng bên đường đu đưa
Ru mình về lại ngày xưa
Cái thời dồng dỗng tắm mưa ngày hè
Trèo xoài,trèo ổi, hái me
“Té trật cù lẵng”bánh chè hỗng kinh
“Trật trìa…” ngủ trợt ngủ nghinh…”
“Nước ngập lút chách” quê mình Bậu wơi!
Dù xa cuối bể cùng trời
Sao quên chất giọng quê tôi ấm nồng
Nhớ quê luộc ngọn cải ngồng
Chấm cùng mắm cái nhủ lòng xuân sang
Tìm về hương vị tô DON
Ngêu ngao ba lý tình tang một thời…
Tìm về tím dậu mùng tơi
Canh nghèo nêm ngọt những lời Mẹ ru
Sắc không một cuộc phù du…
Phạm Dương

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

NHẠC TRỊNH – ĐÔI DÒNG TƯỞNG NIỆM – Bài viết của Trần Thị Cổ Tích

Posted by thinhanquangngai1 on 31/03/2015

NHẠC TRỊNH- ĐÔI DÒNG TƯỞNG NIỆM
1.Chiều mưa năm ấy, trên căn gác nhỏ, hai chị em gái nằm gác chân lên nhau, đầu gối tay, nhìn ra khung cửa sổ.Ngoài ấy là vòm cây trứng cá lá xanh rờn điểm những hoa trắng li ti đang nhỏ từng giọt mưa xuống con đường Quang Trung dài hun hút, thưa vắng bóng người. Ngắm mưa, nghe mưa và nghe nhạc là thú vui của hai chị em vào những chiều đông rảnh rỗi .Bài ca trong băng cassette chị mới mua về làm em gái giật mình…” Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động. Làm sao em biết bia đá không đau?…” Lần đầu tiên cô bé nghe một ca khúc lạ thường như thế. Ca từ và hơi nhạc làm xao động tâm hồn cô bé tuổi mười lăm, lứa tuổi đang nao nức rộng mở cõi lòng đón nhận những điều mới mẻ, lứa tuổi bắt đầu biết lắng nghe từng sợi tơ rung nhẹ trong trái tim mình.Cô nhìn mưa, lạ lẫm như chợt thấy lần đầu.Mưa như một lời hẹn ước, một chờ đợi mơ hồ, một nỗi lòng khắc khoải .” Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng.Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…” Bài ca khép lại ở đó , đồng thời mở ra một chân trời mới trong từng cảm xúc, từng cảm nhận của cô gái. Nhạc Trịnh Công Sơn đã lưu lại trong lòng cô. Và không phải chỉ mỗi mình cô…
2. Quảng Ngãi dần dần mọc lên những quán cà phê mang tên Diễm Xưa rồi Hạ Trắng , Biển Nhớ, Mưa Hồng…Chưa biết cà phê ở đó ngon dở thế nào, chỉ cần nhìn tên quán- tên những ca khúc TCS- là người ta sẵn sàng bước vào với niềm háo hức như đến một nơi hò hẹn thân quen.Ở đó ranh giới tuổi tác không còn. Bên ly cà phê, bên tách trà, họ lắng nghe giọng ca Khánh Ly truyền đi cái chất nhạc mang- mang- nỗi- buồn- thánh- thiện và thấy gần gũi nhau vô cùng.Những người già như thấm thía hơn nỗi đời. Những cặp tình nhân dường như đang học cách yêu thương từ ca khúc của Trịnh.Tình yêu trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng, bao dung. Có tìm đến nhau, có hò hẹn, có mong chờ. Giận hờn đấy, buồn đau đấy, xót xa chia lìa đấy nhưng dường như tình yêu không hề tan vỡ, không hề biến mất mà cứ khói sương lãng đãng suốt một đời. Những chàng trai mười bảy, mười tám thuở ấy thường mượn một chỗ ngồi trong quán , nghe nhạc để làm thơ, để ngóng đợi người mơ, một tà lụa trắng, một suối tóc mềm, một bờ vai nhỏ, tiếng guốc khẽ khàng trên hè phố để rồi nhờ nhạc nói hộ nỗi niềm. “ Em đi qua chốn này…sao em đành vội. Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài…” Lời ca cuốn theo bước chân” người ấy” như một lời ngỏ nhẹ nhàng, kín đáo, cũng có thể là một cách trêu ghẹo dễ thương chẳng làm cho ai phải bực mình.Nhưng đâu phải chỉ có những tình ca đến với lòng người….
3. Năm 1972, 1973… với những đêm lửa trại ở các trường học phố Quảng. Bầu trời lấp lánh sao. Những đôi mắt lấp lánh dõi theo ngọn lửa hồng bốc cao, hừng hực.Tiếng ca bay lên …” Mặt đất bao la anh em ta về gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng. Trời rộng bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam…nối liền một vòng tử sinh…” Không có buổi sinh hoạt nào thiếu những lời ca ấy. Những lời ca đưa tình người gần lại.Từng đóm bụi tro sáng lên cùng ánh lửa rồi lụi tàn, mất hút giữa không gian tối đen gợi lòng ta liên tưởng đến cái hữu hạn, cái mong manh của một kiếp người. “ Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi cát bụi mệt nhoài. Tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi…” Tiếng động ấy là nhịp thời gian hay tiếng đinh đóng vào cỗ quan tài? Sống trong một hiện tại đầy rủi ro bất trắc, tương lai là một dấu chấm hỏi lớn thì cái chết là nỗi ám ảnh của con người dù đang ở tuổi đôi mươi. “ Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng. Đại bác nghe quen như câu dạo buồn…” Tuổi trẻ phố thị dần dần nhận diện chiến tranh và thân phận con người từ những” Ca khúc da vàng”, “ Kinh Việt Nam” luôn được hát vang trong những đêm lửa trại, trong những đoàn du ca ngày ấy.Ca khúc Trịnh Công Sơn, tâm hồn chàng phiêu lãng họ Trịnh, đã thấm vào chúng tôi từ những năm tháng tuổi trẻ cho đến tận hôm nay và chắc chắn sẽ lưu lại mãi đến khi chúng tôi giã biệt cõi đời. Tôi chỉ biết nói “ Tạ ơn ông”.Ngày ông mất tôi không có cơ duyên đưa ông về với đất. Ngày 1- 4 năm nay có ai đó đến viếng ông xin ngắt giùm tôi từng đóa hoa hồng trắng tung nhẹ lên phần mộ ông thay lời tưởng niệm.
TRẦN THỊ CỔ TÍCH ( 2005)

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

BỜ XE NƯỚC – QUẢNG NGÃI. Đồng Sa băng

Posted by thinhanquangngai1 on 25/03/2015

1002834_481891941904513_1756092513_n

BỜ XE NƯỚC – QUẢNG NGÃI

Thân tặng đồng hương Quảng Ngãi, để nhớ về tiền nhân của chúng ta, trong niềm tự hào bởi một công trình vô tiền khoáng hậu, một công trình thủ công xuất phát từ những bộ óc và công sức của những người dân chơn chất, chân lấm tay bùn: “Nông dân xứ Quảng”. “Đã bao lâu rồi không về miền Trung thăm người emNắng mưa đêm ngày cách trở giờ xa xôi đôi đườngNgười ơi có về miền quê hương Thuỳ Dương …” Tiếng hát ấm áp của Quang Lê trong đêm Hè nóng bức đã làm lòng người tha hương càng thêm ray rức nỗi nhớ. Dù ở tận trời Tây, miền Đồng Tháp, trên cao nguyên Lâm Viên, hay giữa đô thành nắng ấm Sài Gòn, những người con của miền Trung nói chung, và Quảng Ngãi nói riêng, khi nghe những lời hát trên chắc sẽ nhớ về quê hương. Nỗi nhớ bao la rồi sẽ cô động lại trên mảnh đất nhỏ bé thân yêu nơi họ chào đời. Vì nơi ấy có biết bao nhiêu kỷ niệm, và cuộc sống đã hòa quyện vào ký ức. Rồi ký ức sẽ lần mò về những ngày xa xưa, và trong giây phút nào đó những ký ức nhạt nhòa cũng tự hỏi: “Ờ, quê hương Quảng Ngãi ngày xưa có gì hùng vĩ nhỉ??!!”Câu trả lời chắc chắn sẽ là: bờ – xe – nước.Đúng vậy, những bờ xe nước khổng lồ trên đất Quảng đã đi vào lòng biết bao nhiêu người con xứ “Nẫu”.Bờ xe nước đã gắn bó mật thiết với những người nông dân trên con đường dẫn thủy nhập điền, để ngày đêm đã tưới biết bao nhiêu cánh đồng lúa trên quê hương Quảng Ngãi. Ngoài công việc quay tròn bên bờ sông, mang nước đưa về những cánh đồng nằm cheo leo khắp nơi, bờ xe nước Quảng Ngãi còn là một thắng cảnh hùng vĩ, có một không hai trên quê hương Việt Nam. Và bờ xe nước cũng là niềm tự hào của những người con xứ Quảng. Những du khách, kể cả những người từ Tây phương, nếu có lần đi ngang qua hoặc dừng chân bên bờ sông Trà Khúc hoặc sông Vệ trong những ngày muà, chắc sẽ được thấy bờ xe nước ngạo nghễ và cao lớn đang quay đều bên bờ sông, mà lòng khâm phục những người tạo dựng lên nó. Rồi con người nhỏ bé, đứng nhìn những hạt nước nhỏ li ti như sương mù bao quanh những bánh xe khổng lồ, có lẻ cũng thắc mắc: không biết ai là người sáng chế ra bờ xe nước? Đi ngược thời gian để tìm câu trả lời cho câu hỏi trên, một nhà hành chánh của sở Văn Hoá Pháp, P. Guillenminet, trong tạp chí Bullettin des Amis du Vieux Huế (BAVH) trong bài “Một kỷ nghệ của người Annam: Những bờ xe nước ở Quảng Ngãi”, ấn bản năm 1926, Volumn 2, chương VI, đã khảo cứu và ghi nhận như sau: “Bộ giáo khoa tổng hợp của Trung Hoa, Châu Chí Tổng Khảo, diễn tả rằng bờ xe nước làm bằng tre, được đẩy bởi dòng nước, tồn tại tại Trung Hoa và đặc biệt là ở phía nam. Một số nhân viên phái đoàn phòng thương mại của thành phố Lyon, Pháp, cho rằng đã thấy bờ xe nước hiện hữu tại làng Thất Xuyên, Trung Hoa. Và phái đoàn quân sự lại nói rằng bên kia ranh giới Việt-Hoa có bờ xe nước tương tự như bờ xe nước ở điạ phương của họ. Ở đồng bằng Bắc phần lại cho rằng bờ xe nước phát xuất từ Trung Hoa và người sáng chế ra là vua Thần Nông. Nhưng những bàn luận về nguồn gốc tác giả nêu trên không đủ căn bản để thuyết phục rằng Trung Hoa là nơi phát minh ra bờ xe nước.” P. Guillenminet tin rằng người Việt và người Trung Hoa có lẻ đã học được kỷ thuật căn bản thành lập bờ xe nước từ phương Tây và đã cải biến cho phù hợp với địa phương.Có ngưồn lại cho rằng viên chủ sự hành chánh Pháp, LaPorte, ở Quảng Ngãi nói rằng “Lão Thêm” ở làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, đã sáng chế ra bờ xe nước.Cũng theo tạp chí BAVH, thì bờ xe nước xuất hiện ở đồng bằng Bắc phần, Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa, Bình Định vào giữa thế kỷ 18 và Quảng Nam đầu thế kỷ 19. Nhưng những bờ xe nước ở những địa phương trên rất đơn sơ, chỉ có một bánh và không qui mô như những bờ xe nước tại Quảng Ngãi. Khi đề cập đến những bờ xe nước tại Quảng Ngãi, nhà hành chánh P. Guillenminet đã ghi nhận rằng: Vợ chồng Lão Diệm, và nhất là người đàn bà gọi là “Mụ Diệm” đã có công mang bờ xe nước từ Bình Định vào làng Bồ Đề , Quảng Ngãi, năm 1754. Bờ xe nước đầu tiên được thiết lập trên bờ sông Vệ, làng Bồ Đề, và Trùm Sanh với chức vụ Cai Yến Bối quản lý bờ xe nước này. Đến năm 1825 bờ xe nước được thành lập trên sông Trà Khúc và đến năm 1900 thì bờ xe nước trên sông Trà Bồng cũng được thiết lập(*).Dường như mãi đến ngày nay, vấn đề xuất xứ và tác giả của bờ xe nước vẫn còn là một ẩn số của một phương trình bậc n, mà nghiệm số có thể chỉ có một, hai, hoặc nhiều hơn, và cũng có thể thực hay ảo. Tùy người suy nghiệm.Duy chỉ có điều cần ghi nhớ là người Á Đông nói chung, và Việt Nam nói riêng, lúa gạo là thức ăn chính trong mỗi bữa ăn. Không như người Tây phương dùng bánh mì đệm trong những bữa ăn. Và điều khác biệt là những cánh đồng lúa mì không cần nhiều nước trong qúa trình trồng tỉa như lúa gạo, ngoại trừ lúa gieo. Thậm chí những cánh đồng lúa mì tại miền bắc Mỹ ngày nay, từ ngày gieo hạt đến ngày thu hoạch, đồng lúa mì lúc nào cũng khô ráo.Thế nhưng công trình xây dựng những bờ xe nước tại Quảng Ngãi rất tốn kém, và mỗi năm bờ xe nước phải phá đi và tái tạo vào năm tới vì vấn đề lụt lội hằng năm. Không như những cánh đồng ở miền Nam Việt Nam, đất thấp và có nhiều hệ thống sông, kinh rạch chằn chịt cung cấp cho ruộng lúa; Phần nhiều, ruộng lúa ở miền Trung nằm dọc theo rặng Trường Sơn, nếu thiếu vắng bờ xe nước thì những cánh đồng khô nức nẻ sẽ không đủ năng suất tạo ra lúa gạo nuôi dân. Vậy bờ xe nước là sự cần thiết trong mạch sống của người dân xứ Quảng. Những nơi khác, như Trung Hoa, nếu đã xử dụng bờ xe nước qui mô mhư tại Quảng Ngãi cho công trình dẫn thủy nhập điền, thì chắc hẳn sẽ được lưu lại trong lòng người dân những hình ảnh và văn hóa của địa phương ấy cho hậu thế.Những bờ xe nước tại Quảng Ngãi đã đóng một vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp địa phương trên hơn ba trăm năm kể từ năm 1754. Mãi đến khoảng đầu thập niên 1980, khi hệ thống kênh Thạch Nham được thành lập cho công trình dẫn thủy nhập điền, thì những bờ xe nước được thay thế bằng những trạm bom. Và kể từ đó những bờ xe nước Quảng Ngãi chỉ còn là một dấu vết lịch sử của một thời mang nước cho dân.Người viết, cũng một thời đã sống bên cạnh và thường đu lên bờ xe nước những buổi trưa hè nóng cháy, với ký ức lu mờ còn sót lại, chỉ muốn làm một gạch nối giữa công trình của cha ông ngày xưa, và lớp người sinh ra khi bờ xe nước đã thuộc về dĩ vãng.Bờ xe nước hầu hết được thiết lập bằng tre, và được xây dựng bên cạnh bờ sông, dùng sức đẩy của nước để quay tròn những bánh xe. Trên những bánh xe có gắn nhiều ống nước, bánh xe quay múc nước vào ống, và đổ vào hệ thống máng nước, máng nước được nối tiếp vào mương nước để đem đổ vào đồng lúa. Bờ xe nước nào cũng có sự liên kết giữa bánh xe nước, máng nước và hệ thống mương chạy ra đồng ruộng. Vì sự liên kết này nên mỗi năm bờ xe nước được tái lập trên vị trí cũ cũa những năm trước. Nói đến bờ xe nước tức phải nói đến những con sông cưu mang nó. Những con sông có lưu lượng nước lớn, chảy một chiều, nghĩa là nơi có bờ xe nước thì không có nước thủy triều chảy ngược về nguồn. Vì bờ xe nước chỉ quay một chiều. Quảng Ngãi có ba con sông lớn: sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Bồng. Ba con sông này phát nguồn từ rặng Trường Sơn, chảy len lỏi qua làng mạc và cuối cùng đổ vào biển Đông. Ba con sông này trải dài trên chiều dọc Nam Bắc của điạ bàn Quảng Ngãi. Hai bên ven sông là những ngôi làng với những cánh đồng lúa. Và cũng trên ba con sông này người nông dân Quảng Ngãi đã từng thiết lập những bờ xe nước để đem nước vào ruộng đồng. Sông, có khúc bồi có khúc xiết nên có những đoạn bờ sông có bãi cát và có đọan không có bãi cát. Cũng vì vậy mà công trình thiết lập bờ xe trên mỗi khúc sông đều khác nhau. Những bờ xe nằm trên khúc sông có bãi cát thì phần căn bản của bánh xe (như căm và niền bánh xe) được thiết lập trên bãi cát, xong mang treo vào trục quay dưới nước và tiếp tục xây dựng phần còn lại (như ống ước, phên). Ngược lại, những bờ xe nằm trên khúc sông không có bãi cát và nước chảy xiết thì những bánh xe được thiết lập trên bãi cát gần đó xong đưa về gắn trên trục quay dưới nước và tiếp tục phần còn lại.Tùy theo cường độ và lưu lượng của giòng sông mạnh hay nhẹ và nhu cầu nước cung cấp cho cánh đồng, có những bờ xe nước có đến mười bánh, mười hai bánh như những bờ xe nước trên sông Trà Khúc.Những bờ xe nước trên sông Vệ chỉ có bốn bánh, và hầu hết mỗi thôn đều có bờ xe nước cho ruộng đồng của thôn đó.Những bờ xe nước ở Quảng Ngãi đều có cách thiết lập tương tự nhau, nên bài viết này chỉ nói đến chi tiết cách thành lập và điều hành của bờ xe nước Ba Bình, xã Nghĩa Thành (nay là xã Hành Thịnh, huyện Nghiã Hành) trên sông Vệ vào những năm 1963 và 1964.Xã Nghĩa Thành, khúc sông tính từ chân đèo Quán Thơm đến đập Bến Thóc, thôn An Ba, có năm bờ xe nước, một bờ cho mỗi thôn: bờ xe Thuận Hoà cho thôn Thuận Hòa, bờ xe Chán Thuỷ cho thôn An Chỉ, bờ xe Xuân Ðình cho thôn Xuân Đình, bờ xe Ba Bình cho thôn Ba Bình và bờ xe Mỹ Hưng cho thôn Mỹ Hưng. Trên năm bờ xe trên riêng chỉ có bờ xe Chán Thủy đổ về thôn An Chỉ của xã Nghĩa Phước (nay là Hành Phước).Ngòai ra thôn Đồng Xuân (nằm giữa Ba Bình và Mỹ Hưng) không có bờ xe nước thì lại được thay thế bằng nhà máy nước, nhà máy nước ông Trần Công Sơn. Năm bờ xe nầy, trừ bờ xe Chán Thuỷ ra thì tất cả còn lại đều có bãi cát rộng lớn bên cạnh.Ban điều hành của một bờ xe gồm có Trương Cử, một Trùm xe, và 4, 5 người thợ xe. Trương Cử có thể có nhiều người, mỗi người làm chủ một phần của bánh xe, gọi là tên. Có nửa tên xe tức là làm chủ nửa bánh xe. Những Trương Cử là những người bỏ vốn, và công để xây dựng bờ xe. Ðến ngày gặt lúa thì tuỳ theo ruộng sâu hay ruộng cạn, ruộng trên gò hay ruộng dưới trũng, ruộng nằm xa nước xe hay ruộng nằm gần nước xe mà chủ ruộng sẽ đóng lúa cho Trương Cử nhiều hay ít. Những lúa nầy sẽ được chia trả phần vốn cho mỗi Trương Cử trước, xong trả công cho Trùm xe, và thợ xe, cuối cùng lúa còn lại đem chia phần lời cho các Trương Cử.Ngày xưa, những năm 1975(?) trở về trước, ruộng lúa miền Trung mỗi năm chỉ cấy một mùa, và vụ lúa bắt đầu vào cuối tháng Ba âm lịch đến tháng Tám, tháng Chín âm lịch là lúa được gặt về. Lúa chỉ cấy trong mùa khô vì sau tháng Chín tháng Mười là đến mùa mưa, nước lụt sẽ làm hư thối lúa. Cho nên những bờ xe nước chỉ được thiết lập và hoạt động vào giai đoạn đầu của vụ lúa, đến khoảng tháng Chín âm lịch thì lúa đang chín, không cần nước nữa và mùa lũ lụt cũng sắp đến, bờ xe nước sẽ được gỡ ra trước khi nước lũ đổ về. Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch Trùm Xe đến nhà Trương Cử thu tiền để mua tre và vật liệu xây dựng bờ xe, tuỳ theo số tên xe Trương Cử làm chủ, mà thu nhiều hay ít. Trùm Xe lấy tiền đi mua tre. Mấy thợ xe là người đốn tre và mang tre ra bờ sông. Việc đầu tiên là trùm xe và thợ xe sẽ đóng một cái bè bằng tre, rộng lớn dùng để di chuyển trên sông, kế đến họ xây một cái nhà nhỏ trên cát bên cạnh bờ xe gọi là chòi xe. Chòi làm bằng tre, vách và mái lợp bằng rơm. Chòi xe rất kín gió và có luôn cả bếp núc để thợ xe nấu ăn hằng ngày. Sau khi có chỗ ăn ở đàng hoàng, trùm xe và thợ xe sẽ bắt tay vào việc. Trùm xe và thợ xe lên rừng chặt một loại dây to cỡ cổ tay và rất dẽo đem bỏ ra bè chở về để làm bánh xe. Những dây này dùng quấn chung quanh niền bánh xe cho cứng. Nếu không có loại dây này thì thợ xe phải chẻ lạt tre ra đánh thành một dây lớn, dai, thay thế. Trùm xe và thợ xe còn thu của Tương Cử những thứ như: lá mía khô, lá chuối khô dùng để làm bờ độn giữ nước.Trong công đoạn xây dựng bờ xe có rất nhiều việc, và những việc này có thể làm song song với nhau để tranh thủ thời giờ. Vì cuối tháng ba âm lịch là những thửa ruộng khô nức nẻ đã được cuốc ải xong cần nước để bừa. Cho nên chu kỳ bờ xe nước, nhữmg thửa ruộng lúa và thời tiết trong một mùa luá đều ăn khớp vào nhau.Trùm và thợ xe mang bốn trục xe của năm cũ ra dựng trên bãi cát. Kế đến là những thân tre già, lớn sẽ đước trảy nhánh sạch sẽ, cắm vào trục xe làm căm. Trục xe có chiều dài chừng ba thước. Hai đầu trục xe tròn và được niền bằng sắt. Ngoài đầu hai trục được đục nhiều lỗ chen kẽ dùng để cắm căm, hai lớp căm từ hai đầu trục bắt chéo qua nhau. Bề ngang viền bánh xe rộng cỡ một thước và được đánh chung quanh bằng sợi dây dẽo dai mang từ trên rừng về.Trong khi căm và niền xe đã được lắp vào trục trên bãi cát thì thợ xe dùng những thanh tre, lớn cỡ ba ngón tay khép, đang thành những tấm phên. Và những người thợ khác lại lặn xuống đáy sông xúc sỏi đổ thành một lớp mỏng nơi những bánh xe sẽ được dựng lên. Những tấm phên tre sẽ được đóng lên trên lớp sỏi làm thành một cái sàn để giữ cát khỏi bị xoi mòn. Và cũng trong lúc này, thợ xe sẽ chôn những cột trụ trên lớp phên để từ đó bánh xe được gác lên. Bốn bánh xe thì có ít nhất tám cột trụ lớn và những cột trụ nhỏ chôn bên cạnh để chống đỡ cho khỏi bị xiên, ngã.Khi cột trụ xe được chôn chặt dưới cát là cũng đến lúc những bánh xe trên bãi cát được dời xuống nước đặt lên trụ. Giai đoạn này cần có nhiều người dân trong làng giúp để mang bánh xe ráp vào trụ. Một đoàn người như đàn kiến bu bên bánh xe, họ dùng phương pháp đòn bẫy và những dây dừa buộc vào bánh xe kéo dựng dậy và cho lăng từ từ xuống nước, rồi ráp vào trụ xe. Mỗi bánh xe có đường kính cỡ năm thước, to và nặng, vậy mà những con người nhỏ bé đã chinh phục và đặt vào trụ chống đỡ rất ăn khớp. Khi những bánh xe đã được ráp vào trụ chống đỡ và những cây chống chèo được cài lên giữ vững bờ xe, thì thợ xe gắn những tấm phên hai đầu bờ xe, lấy cát tấp lại để chống lại con nước xoáy có ảnh hưởng đến bờ xe.Trong khi trùm và thợ xe ráp bánh xe thì một số người khác lại mang những khúc tre già ra đóng thành một hàng trụ ngang qua con sông. Cách chừng vài thước là cắm một cây trụ xuống cát, một bên chống bằng những khúc tre khác để giữ vững. Hàng trụ này dùng để giữ bờ độn. Bờ độn là một bờ cát như một con đê nằm chắn ngang con sông giữ nước lại. Dọc theo những cây trụ người thợ xe gắn vào những tấm phên bằng tre và độn một lớp lá mía khô, lá chuối khô làm thành một bức tường. Sau đó Trương Cử mang trâu bò xuống giòng sông kéo cát tấp vào bờ độn. Công việc kéo cát gồm có một cái trang bằng gỗ hoặc tre được buộc vào cổ hai con trâu hoặc bò. Trâu và bò kéo cát dưới lòng sông đem tấp lên bờ độn thành một dãy cát cao hơn mặt nước. Bờ độn chặn nước lại, làm tăng sức đẩy để quay tròn bốn bánh xe. Có những bờ xe nước ở khúc sông sâu và nước chảy mạnh, như bờ xe Chán Thủy hay một vài bờ xe trên sông Trà Khúc, thì bờ độn bằng cát không làm được. Những bờ xe này có bờ độn nổi, nghĩa là bờ độn chỉ làm bằng những tấm phên tre chắn ngang sông và không ăn sâu đến đáy sông.Trên bờ độn được trổ hai lỗ cổng gọi là lỗ cổng gió. Lỗ cổng gió dùng để ghe thuyền chạy qua và những khi con nước lớn quá thì lỗ cổng gió được mở ra để điều hoà sức nước khỏi làm vỡ bờ xe. Trên mặt bờ độn thợ xe trồng miá để giữ cát khỏi chuì xuống nước. Những dãy miá này lớn rất lẹ nhưng khi lớn có thể ăn được thì cũng đến lúc bờ xe nước phải gở ra đem cất vì muà xe cũng đã qua.Song song với những người Trương Cử kéo cát bờ độn là những thợ xe lo đóng dàn máng và mang những máng nước từ năm trước đem đặt lên. Máng nước được làm bằng tôn hay đan bằng tre và trét dầu rái lên cho giữ nước và bền. Những máng nước được cất giữ bởi trùm xe và mỗi năm máng tre phải sơn lại một lớp dầu rái. Dàn chống để đặt máng làm bằng tre, trên mặt dàn chống được lót một lớp vĩ tre trước khi đặt máng nước lên.Máng nước được bắt trước mặt bờ xe, chạy dài trên bãi cát, khi vào gần làng hay khu đất cao máng nước sẽ bắt vào mương nước. Và mương nước chạy xuyên qua làng thẳng đến cánh đồng.Trong khi hệ thống máng nước, bờ độn được thiết lập, thì thợ xe sẽ gắn những tấm phên vào bánh xe. Tấm phên đan bằng tre, hình vuông hoặc hình chữ nhật rộng bằng chiều ngang bánh xe. Trên vòng tròn bánh xe, cách khoảng chừng một, hai thước sẽ gắn một tấm phên xe. Dòng nước chảy tống vào phên xe và đẩy bánh xe quay tròn. Kế đến, thợ xe sẽ gắn ống nước vào bánh xe. Ống nước cũng làm bằng tre, dài chừng vài ba lóng tre, những mắt tre được đục thủng xuyên qua, và một đầu ống được giữ kín để chứa nước. Ống nước được gắn vào bánh xe với độ nghiên chừng 15 độ. Khi bánh xe quay xuống nước, ống nước sẽ bị nhận chìm trong nước và nước sẽ chun đầy vào ống, rồi bánh xe quay mang ống nước lên đến đỉnh và bắt đầu quay ngược xuống là nước trong ống đổ ra cái máng nhỏ nằm giữa hai bánh xe. Máng nhỏ này được bắt vào hệ thống máng lớn để đưa vào dàn mương nước. Trong khi gắn phên xe và ống nước vào bánh xe, thợ xe dùng cây gậy thọt ngang qua bánh xe để bánh xe không quay tròn được. Thì ra người ta nói thọt gậy bánh xe là thế!Đến đây, bờ xe coi như hoàn thành và có thể đưa vào hoạt động. Trùm xe, thợ xe và những Trương Cử cùng những người lớn tuổi trong làng làm một buổi lễ nhỏ bên bờ xe gọi là lễ khánh thành và cúng bái thần sông cùng ma da phù hộ bờ xe. Sau đó những cây gậy chắn ngang bánh xe sẽ được rút ra, và những bánh xe bắt đầu quay tròn trên giòng sông. Những ống nước trên thành xe thay phiên nhau hụp lên hụp xuống trong dòng nước và thi nhau đổ lên máng nước. Những dòng nước trắng xoá đuổi nhau chạy trên máng nước, va chạm vào thành máng kêu róc rách. Đến đầu làng máng nước đổ vào mương và những đưá bé trần truồng nằm sẵn dưới mương, đợi chờ. Rồi oài lên những tiếng reo hò của bầy con nít“Ô kià! Con nước đã về.”Từ đây những thửa ruộng khô nức nẻ sẽ được uống những dòng nước trong lành từ giòng sông sau làng. Màu vàng cháy của cánh đồng cũng bắt đầu chuyển thành màu xanh tươi, màu xanh của nhựa sống. Những con chim Chà Chiện con trên luống đất ải cũng đã mọc cánh, đang bay đi. Và thoảng trong tiếng gió, giọng ca của ai: “Dẫu xa muôn trùng tôi vẫn còn thương sao là thương!” (*): Tạp chí BAVH, ấn bản 1926, volumn 2, chương VI, trang 159). Đồng Sa Băng. 24 tháng 7, 2007

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

NHỮNG CHIỀU MƯA BỤI THơ Nguyễn HOang Dương

Posted by thinhanquangngai1 on 22/03/2015

NHỮNG CHIỀU MƯA BỤI

Những chiều mưa bụi bay qua
Dưới hiên mấy khóm hoàng hoa lấm buồn
Một tôi ngồi ngắm mưa suông
Bâng khuâng nhớ nắng vàng buông phương nào

Những chiều mưa bụi bay cao
Vẫy mời lộc biếc trổ chào giêng hai
Em nhìn cánh én liệng bay
Cùng hoa cỏ hẹn ngày mai nắng hồng

Những chiều mưa bụi mênh mông
Ngày xuân nhẹ lướt qua song bóng mờ
Tháng giêng cũng biết ỡm ờ
Buông làn mưa mỏng che hờ sắc hương….

NGUYỄN HOÀNG DƯƠNG

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

EM CÓ VỀ QUA SÔNG CŨ Thơ Nguyễn Hoàng Dương

Posted by thinhanquangngai1 on 19/03/2015

EM CÓ VỀ QUA SÔNG CŨ

Mười lăm năm rồi lận đận
Tôi chưa trở lại Cát Tiên
Nhớ sông Đồng Nai hoang vắng
Quanh năm nước đục xuôi miền…

Nhớ em một thời lưu lạc
Nhớ tôi một thuở phiêu bồng
Gặp nhau dưới trời viễn xứ
Cùng nhau thương một dòng sông..
……

Rồi cũng từ dòng sông ấy
Em đi không hẹn buổi về
Và tôi giang hồ lỡ cuộc
Ngậm ngùi quay lại trời quê

Thế rồi dòng đời muôn ngả
Mỗi người mỗi phận dạt trôi
Cát Tiên còn trong mộng tưởng
Sông xưa lặng chảy bên trời …

Mười lăm năm rồi xa biệt
Chốn xưa em có quay về ?..
Lâu rồi đời tôi yên phận
Quê nhà mưa nắng mù che

Em có về thăm nơi ấy
Thương giùm bóng nắng chiều xa
Lòng tôi bao lần nhung nhớ
Cát Tiên nhuộm ánh dương tà….

Em có về qua sông cũ
Vớt lên đôi cánh lục bình
Coi như thương đời nhau vậy
Vốn cùng một kiếp lênh đênh…

NGUYỄN HOÀNG DƯƠNG

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

THƯƠNG VỀ NÚI ẤN SÔNG TRÀ Thơ Trần Thoại Nguyên

Posted by thinhanquangngai1 on 10/03/2015

THƯƠNG VỀ NÚI ẤN SÔNG TRÀ

1
Lâu lắm rồi! Chưa về Quảng Ngãi!
Quê nhà xưa cây cỏ biếc trong hồn.
Trăng thơ ấu bay về miền xa ngái
Tóc xanh giờ tay vuốt trắng tợ bông!
.
Bạn quê hỡi! Mái đình làng đã mất,
Ta ra đi thần thánh cũng đi rồi!
Gốc đa làng mùa màng qua hiu hắt,
Thời đại buồn trơ tráo bác chìa vôi!
.
Ngã ba làng, bác thợ rèn lê mác
Những đêm xưa nung nấu diệt quân thù.
Tiếng rìu búa dội đau hồn dân tộc
Người bên người chen sắc nắng vàng thu!
2.
Lâu lắm rồi! Chưa về quảng Ngãi!
Quê nhà ơi trai tráng mấy phương trời!
Mảnh đất ấy gieo trồng tư tưởng mới
Nghĩa xóm tình làng mấy độ tàn rơi!
.
Nghe tiếng kẻng trâu bò theo điểm khoán
Nóc chùa thiêng, nhà giữ trẻ khóc gào!
Ngã ba làng loa phóng thanh sang sảng
Em hồn nhiên em thơ mộng về đâu!
.
Bờ xe nước, con Sông Trà chết giấc!
Thiên Ấn buồn nhìn Thiên Bút hết thiêng!
Có ai về đánh thức hồn non nước
Khơi lại nguồn xưa: Đẹp trăng lên?
3.
Lâu lắm rồi! Chưa về Quảng Ngãi!
Nghe tin bão xa nước lụt dâng đồng.
Xem đài báo thương dân mình quá đỗi
Cuộc sinh tồn chồng chất những tai ương!
.
Mẹ ta hỡi! Dáng tre chiều gầy guộc,
Một đời buồn lam lũ nắng mưa sương!
Màu năm tháng quẩn quanh từng hạt thóc,
Biển động Trường Sơn đau,chớp biển mưa nguồn!
.
Đêm quán khách,mắt cay, người xa xứ,
Một lòng thương về Núi Ấn Sông Trà!
Ai cũng biết trăm năm là cuộc lữ
Hạt bụi nào không mang bóng một quê xa!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

TIỄN HUYỀN HUYỄN THẠCH Thơ Nguyễn Minh Phúc

Posted by thinhanquangngai1 on 03/03/2015

Tiễn Huyền Huyễn Thạch

tôi về quảng ngãi mà không kịp
cuối năm hoa cải đã lên ngồng
bạn ở đâu mà đưa tay vẫy
chỗ tôi ngồi sóng vỗ ngập triền sông

quê nhà xa lắc đi đi mãi
hay đâu một sớm lại quay về
đời lận đận xô sông Trà xa ngái
ngửa mặt buồn mưa buốt dọc đường quê

biệt ly nào mà chẳng buồn rơi lệ
huống chi là xa cách sẽ nghìn năm
ly rượu đắng chiều nay buồn như thể
bạn rồi đi xa mãi một chỗ nằm

trà khúc ơi tôi ngồi đây mà nhớ
sóng vỗ chân cầu lạnh suốt bờ sông
thôi vuốt mặt gió ơi đừng thổi nữa
chiều cuối năm ly rượu sắt se lòng…

kiên giang 30 tết Ất mùi
Nguyẻn Minh Phúc

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

QUẢNG NGÃI QUÊ HƯƠNG Thơ La Tinh

Posted by thinhanquangngai1 on 27/02/2015

QUẢNG NGÃI QUÊ HƯƠNG

Tà Dương phớt hờ lên Thạch Bích,
Rớt giọt hoàng hôn xuống Trà Giang,
Long Đầu Hý Thủy sương lam tím,
Thiên Ấn Niêm Hà gió nồm sang.

Mây trời phê nét tranh Thiên Bút,
Vãn Độ Hà Nhai bến thiên thai ,
Cô Thôn tiên cảnh chiều Cổ Lũy,
La Hà Thạch Trận nét chưa phai.

Liên Trì Dục Nguyệt hương sen ngát,
An Hải Sa Bàn cát trắng phau,
Thạch Cơ Điếu Tẩu ngồi câu cá,
Dấu chân kỳ tích chửa phai màu.

Vân Phong Túc Vũ mưa trong đá,
Vu Sơn Lộc Trường nai mùa thu,
Tam Thương bến cũ đò neo đợi,
Mỹ Khê biển mộng sóng tình ru.

Suối Mơ thả mộng bên Thác Trắng,
Mỹ Á thuyền tình về thênh thang,
Sa Huỳnh sóng vỗ bên sườn núi,
Lý Sơn in đậm một Chùa Hang.

Cẩm Thành còn đó trong hoài cổ,
Châu Sa thành cũ nét Hời Chăm,
Bàn Cờ sừng sừng nhìn Cừa Đại,
Hội Quán, Chùa Ông khách viếng thăm.

Kỳ bí âm thầm chân Cầu Phủ,
Nước nóng lộ thiên giữa đồng xanh,
Thu Xà phố cổ vào dĩ vãng,
Bích Khê thi sỹ nỗi niềm riêng .

Thạch Nham hữu tình cùng sơn thủy,
Trà Khúc nhịp cầu với tháng năm,
Sa Kỳ -Hầm Rượu mùa thương cảng,
Sa Cần-Châu Tử đón xuân sang.

Tết 2015
La Tinh

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

NGÀY MAI Thơ Trần Quang Châu

Posted by thinhanquangngai1 on 21/02/2015

NGÀY MAI

Bởi đã biết chân đi là bước tới
Nên con người luôn nghỉ đến ngàymai
Dù hôm qua có thể suốt đêm dài
Nằm mơ thấy man man lòng trắc ẩn

Bởi đã biết thời gian không có cánh
Nên bước đều trên mặt đất… hôm nay.
Không so đo nắng thiếu hay mưa đầy
Không nghiệt ngã với người quen kẻ lạ.

Bởi đã biết từ cội nguồn thiên hạ.
Có những mảnh đời đánh vật với thời gian!
Có những lằn roi khêu cháy đống tro tàn
Trong suy nghỉ thuyết vô cùng nhân quả.

Bởi đã biết dòng sông còn đang chảy.
Nước hai bờ có bên đục, bên trong…
Phù sa trôi theo con nước lớn ròng
Về đâu đó, đắp bồi cây trái ngọt

Trần Quang Châu

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ LỤC BÁT của Trần Quang Dũng

Posted by thinhanquangngai1 on 21/02/2015

CHIỀU PHỐ NÚI

Bóng chiều nghiêng xuống chân đồi
Pha màu phố núi vàng rơi xuống đường
Nhẹ nhàng vài sợi tơ buông
Bay theo lối gió vướng vương cõi lòng
Chiều về, chín nhớ mười mong
Chiều về, phố núi như bồng bềnh trôi

Từ trong bóng ngã bên đồi
Thấy em mắt ướt dỗi hờn quay lưng
Từ tôi, sâu thẳm vô cùng
Nghe vang vọng tiếng hồi chuông nhà thờ
Nghe từ em, cõi ngây thơ
Cái duyên con gái mắt lơ mơ buồn

Cuối chiều phố núi mù sương
Tôi như du khách bên đường lãng quên
Dò tìm đôi chút thân quen
Dò tìm em, giữa bon chen cuộc đời!

NGÀY VỀ PHỐ CŨ

Tìm về phố cũ rong chơi
Bao nhiêu kỷ niệm gọi mời bước chân
Cũng con đường ấy bao lần
Thả dài bóng mát như gần như xa
Thả trên lưng nỗi nhớ nhà
Có em tay đỡ tôi qua cơn buồn…
Có em dịu ngọt lời chuông
Dắt dìu tôi bước trên đường phố đông
Kỷ niêm xưa, vẫn còn nồng
Ngày về phố cũ gió lồng lộng bay

NỖI NIỀM

Nỗi niềm ta biết riêng ta
Chuyện cơm áo ấy, ai mà chẳng vương…
Trải thân ta kín con đường
Đi qua trăm ngã yêu thương cuộc đời

Ta nghe chiếc lá vàng rơi
Nghe trong gió nhẹ đôi lời thở than
Nghe từ nguyên thủy cưu mang
Xác thân bèo bọt… đau càng thêm đau!

T.Q.D

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CUỐI NĂM GHÉ THĂM HUYỀN HUYỄN THẠCH- Thơ Trần Thoại Nguyên

Posted by thinhanquangngai1 on 18/02/2015

CUỐI NĂM GHÉ THĂM, HUYỀN HUYỄN THẠCH

Tôi về Quảng Ngãi chiều mưa lạnh
Tháng Chạp,mùa đông gió sắt se.
Ghé thăm người bạn Huyền Huyễn Thạch
Sông Trà ơi! Không nước vỗ về!

Đôi mắt sầu chong xuyên thế kỉ
Trời điêu linh cuồn cuộn chỗ nằm!
Cầm tay nhau buốt hồn nghèn nghẹn
Trăng mười phương soi vách tường câm!

Bạn đọc thơ tôi thời mới lớn
Điệu hồn cô lữ sánh vai cùng.
Cuộc rượu nửa khuya trăng lảo đảo
Đường về chân bước lạc khói sương!

Tôi gọi vang vang Huyền Huyễn Thạch
Thiên Bút ngừng tay đọc mây thơ.
Thiên Ấn chuông ngân thần tử mách
Bến mộng Bích Khê rót rượu chờ!
TRẦN THOẠI NGUYÊN

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

HAI BÀI THƠ Của Nguyễn Thành Mai

Posted by thinhanquangngai1 on 17/02/2015

LỜI TẠ LỖI CÙNG MẸ

Tết này con không về thăm mẹ
Sân nhà ai dẫy cỏ đón xuân
Mình mẹ trong căn nhà vắng lạnh
Tết vắng các con. Mẹ có buồn nhiều !

Tết quê xa con nhớ bao điều
Về mẹ, về quê, những ngày thơ dại …
Nhà mình đông vui bên bếp lửa
Bánh tét, bánh chưng, ấm cả tình người.

Rộn rã tiếng cười, rộn rã niềm thương
Mẹ nhẹ bảo gắng chờ giao thừa đến
Lửa vẫn reo, mắt con ríu lại
Giấc ngủ nồng tết đến nào hay.

Kỉ niệm trôi đi con lớn từng ngày
Và cứ thế … xa quê từ dạo đó
Sáng nay xuân về trên đầu ngõ
Thắp nén hương xa nghe lạnh bát hương nhà.

ĐÒ CHIỀU BÂNG KHUÂNG

Mười năm rồi đã còn gì!
Xa em xa cả cái thì ngày xưa
Anh về hôm ấy trời mưa
Bước chân quen, dấu cỏ xưa ngày nào…

Cũng vầng trăng, cũng trời sao
Cũng con đường nhỏ lối vào thân quen
Hoa cau vẫn rụng bên thềm
Tóc thề ai xoả buông mềm toả hương…

Ngõ xưa lối cũ còn vương
Tình xưa giờ đã như sương khói chiều
Nhặt trong kí ức lời yêu
Em sang sông, con đò chiều bâng khâng!

Nguyễn Thành Mai

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

HAI BÀI THƠ của Bùi Ngọc Anh

Posted by thinhanquangngai1 on 06/02/2015

CHIẾC LÁ CHIỀU ĐÔNG

Đông lạnh mờ trong mưa
Thả hồn qua song thưa
Nhánh Sầu Đông trơ trụi
Sót một chiếc lá vàng.

Chiếc lá như thở than
Thời gian qua nhanh quá
Vừa Xuân xanh mượt lá
Thu qua đã úa tàn !

Chiếc lá như ngậm ngùi
Khẽ run trong gió bấc
Quặn lòng cơn buồn tủi
Tiếc nuối tháng ngày qua.

Bóng chiều như hối hả
Nào lá dám nói ra
Sợ một chút phong ba
Cuốn đời mình bay xa…

Tôi nhìn theo chiếc lá
Nhạt nhòa chiều mưa bay
Chợt thoáng bóng mẹ già
Lệ hoen mờ mắt cay !
19/12/2014

CHÚT TÂM HƯƠNG CHO CHA
Niệm tưởng 24 tháng cha từ biệt cõi trần

24 lần trăng
Lòng con giăng đầy nỗi nhớ.
Ngơ ngẫn, thẫn thờ
Mơ hoài hình bóng cha yêu.
Ngày xuống tiêu điều
Hắt hiu lòng quạnh vắng
Nhiều đêm thức trắng.
Con đắng lòng hai tiếng mồ côi !

Cha đi rồi mình con bên mẹ
Hồn vật vờ người thoáng nhớ về cha.
Và như tìm về ký ức ngày qua
Tay gầy guộc quạng quờ trong hư ảo.
Ngày theo ngày mẹ lặng thầm không nói
Gói cả trời buồn nhưng nước mắt nào tuôn.
Cha đi rồi, con ngồi trông mẹ
Nhẹ lòng cha an chốn Cửu tuyền.
Cha yêu ơi! Hai năm trời ly biệt
Con vẫn miệt mài chăm chút mẹ già nua.
Nguyện cầu cha trên con thuyền Bát Nhã
Cập bến Bồng Lai, giã biệt cõi Ta Bà.

Chút tâm hương con thắp cho cha
Thấm giọt lệ sa, trời khuya lạnh giá.
Chạnh lòng, không nói nên lời !
Con ngước mặt nhìn trời
Ngời ngời vầng trăng 24
Ánh vàng rọi sáng lòng con.
Nghĩa nặng, ơn sâu
Con trầm mặc cúi đầu
A di đà…
Mờ ảo bóng cha già
Vời vợi phía trời xa./.
29/12/2014
Bùi NGọc Anh

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

MẶC Thơ Linh Vũ Thạch Bích

Posted by thinhanquangngai1 on 06/02/2015

MẶC…

Thân lãng tử chẳng ngại gì mưa nắng,
Xuân có về đâu khác buổi đông sang.
Dù ngọt nờm hay bắc phong vi vút,
Ngụ trần gian ta cứ trải mộng vàng.
Ngày chấp chới vẫn ươm hoa sự sống,
Giữa iêu ma ta biến sắc hương đời.
Cố lên bạn dẫu nhân gian biến động,
Đã ghé chơi cứ mài miệt ru hời.
Biết thế thái dập dềnh như đông hải.
Thương cho ai chới với giữa khôn cùng.
Đừng khắc khe tồn vong hay thành bại,
Cháy đi thôi cháy rụi cả vô thường.
Trăng nay sáng cùng ta phiêu xứ Thạch,
Nâng giang Trà chén nốt một đêm say.
Mời Nguyệt về trải khuôn triền Đá Vách,
Gối tóc người, nghĩa gì ? buổi xuân lai.

Linh Vũ Thạch Bích

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

TUỐT LÁ MAI Thơ Trần Hoàng Vy

Posted by thinhanquangngai1 on 04/02/2015

TUỐT LÁ MAI

Lá xuống cội,
ấm tay người tuốt
mùa xạc xào,
thương những non tơ
cứ cắt thịt, tả tơi…
nhói buốt
phút dâng đời
búp nụ…và mơ…
TRẦN HOÀNG VY

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

BÌNH LẶNG VỆ GIANG Thơ Hồ Nghĩa Phương

Posted by thinhanquangngai1 on 04/02/2015

BÌNH LẶNG VỆ GIANG

Dòng sông tình
lặng chảy trong tôi
bờ bãi ấy
tuổi thơ ta chìm đắm
bước rong ruổi
đường xưa bối rối
giêng hai về
sương rơi lạnh căm.
Vệ Giang mơ
nhoài ra biển Đông
qua làng xóm
đời mẹ cha vất vả
cánh đồng vui
mùa vàng trải rộng
hoa lá rực màu
chim hót reo ca.
Bình lặng sông ơi
với những lở bồi
chiều cuối năm
ngắm nhìn trời đất
ngôi nhà ai
khói lam chìm nổi
hạnh phúc dâng trào
mắt ta rưng cay.
04/3/2015
Hồ Nghĩa Phương

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

HOA CÚC CŨNG LÀ EM Thơ Viên Chính

Posted by thinhanquangngai1 on 04/02/2015

HOA CÚC CŨNG LÀ EM

Rồi cuối thu hoa cúc chín trên đồi,
Sắc vàng vỡ làm mùa thêm hoang vắng
Tôi lại đi giữa chiều không nắng,
Mong tìm vạt nắng của ngày xưa…
Như hôm nào em qua bến đò mưa,
Tôi sợ lạc một lối về dĩ vãng
Bâng khuâng mãi rồi hóa người lơ đãng,
Tìm em không gặp… lại tìm tôi!
Sợ ngẫu nhiên chạm chiếc lá rơi
Hay bất chợt tàn may trở lạnh,
Dù tôi tập lãng quên nhiều hư ảnh
Nhưng ở nơi nào, đâu phải nơi đây!
Bây giờ thu đan kín giữa vòng tay,
Lỡ vô ý bóng chim hờ sẽ vuột
Rất dễ nhớ nơi em ngồi rẽ tóc,
Nên dễ nhầm dáng mỏng mùa thu
Đã bao chiều tôi hạnh ngộ cùng tôi,
Muốn gom nhặt một vài câu để hát
Mà quê cũ vẫn tình xưa lưu lạc,
Thôi đành… hoa cúc cũng là em!
VIÊN CHÍNH

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ của La Tinh

Posted by thinhanquangngai1 on 03/02/2015

HƯƠNG TÌNH QUÊ 

Hoàng hôn trên quê hương yêu,
Vàng rơi trên sông La Tinh,
Mây chiều Đầu Voi bên sông,
Lam chiều bay vương trong thôn.

Đường về làng thôn êm êm,
Theo thời gian về năm xưa,
Sân chùa nằm im bao lâu,
Mai vàng mùa xuân đơm hoa.

Nghe tình len trong tâm tư,
Ân tình năm xưa còn vương,
Câu hò  ai ru thân thương,
Yêu người trong thôn quê hương.

Xưa đò đưa ai sang sông,
Ai buồn vô biên tim đau,
Tình đầu nào ai nên duyên ( !)
Thôi đành chìm vào ngăn tim.

Thu vàng  buôn rơi ra đi,
Phương trời nào xa thêm xa,
Cho hồn nhàu theo thời gian,
Nhưng rồi sao tình không tan.

Hôn hoàng trùm lên quê hương,
Nghe tình quê trào hương men,
Thôn tình chiều trong hương lam,
Tơ lòng buồn trong vô biên.

Sông tình La Tinh còn đây,
Sơn tình Đầu Voi còn đây,
Người tình còn đâu, về đâu,
Nghe buồn tương tư thêm sâu.

Hoa tình quê hương trong tim,
Không tàn mờ phai bao giờ,
Bao giờ cho dù bao giờ,
Thiên thu mang hồn vào thơ.

THÊU TRANH

Đêm khuya yên bình nơi thôn trang,
Sương giăng giăng mờ trên đồi hoang,
Nàng ngồi thêu tranh bên khung vàng,
Trăng tìm đường thêu đôi chim oanh.

Ngời ngời châu sa rơi bên nàng,
Đều đều đôi tay khâu tơ vàng,
Đường đường tơ đi như con thuyền,
Trùng trùng chim oanh bay xa xa.

Nàng ngồi như tiên trên mây ngàn,
Tranh tình nàng thêu bao năm rồi,
Như tình nàng say lên men buồn,
Bao giờ tình nàng như tranh thêu.

Nàng ngồi thêu tranh cho đêm tàn,
Đêm dài tình- tranh như đua nhau,
Tơ mềm ngời lên tranh thêm hoa,
Đêm dần vào khuya, trăng bao la.

Nhân tình thêu tranh cho tình nhân,
Yêu người thêu tranh cho người yêu,
Xa tình thêu tranh cho tình xa,
Đau buồn thêu tranh cho buồn đau.

Nàng buồn miên man trong đêm dài,
Đêm dài thêu tranh trong tương tư,
Tương tư cho tình không nên duyên,
Nên duyên nàng buồn như tranh thêu.

Tranh rồi thêu xong trong đêm nao,
Trăng tình mờ xa nghiêng mờ xa,
Đêm rồi tàn phai , rồi tàn phai,
Nàng còn thêu tranh, còn thêu tranh…

La Tinh, 2015

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

MÙA NHỚ Thơ Nguyễn Thành Mai

Posted by thinhanquangngai1 on 02/02/2015

MÙA NHỚ
Kính tặng: Mẹ

Mãi tha hương cầu thực
Hiếm có dịp quay về
Vào đông trời se lạnh
Dâng trào nỗi nhớ quê.

Lúa mùa giờ đã trổ
Mẹ có còn ra đồng!
Thương bàn chân tím lạnh
Một đời hoài bão giông.

Một đời bao khổ cực
Đạn bom của quân thù
Cha ra đi từ thuở
Mẹ hãy còn tóc xanh.

Thời gian bao thay đổi
Lá vẫn rụng hiên nhà
Con thơ giờ khôn lớn
Giông về mẹ nhớ cha.

Tóc xanh giờ đã bạc
Nhọc nhằn oằn lên vai
Có bao giờ mẹ kể
Công nuôi con tháng ngày.

Chiến tranh không còn nữa
Cha đi mãi không về
Chiều nay trời se lạnh
Nhớ mẹ thương miền quê.

Nguyễn Thành Mai

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ LỤC BÁT của La Hà Thạch Trận

Posted by thinhanquangngai1 on 30/01/2015

MO CAU CỦA NGOẠI

Ngày xưa ngoại ép mo cau
Chằm gàu múc nước, giếng sâu đêm rằm
Gom từng giót nước lăn tăn
Thả trôi làn tóc nhớ anh hong đầy
Võng đưa từng giấc ngủ say
Mo cau cắt quạt, tình bay ngậm ngùi
Rạ un ngọt lịm khoai lùi
Ngoại đem cổ tích kể hoài từng đêm
Em yêu giọng ói dịu êm
Lá buồn cay cũng hom hem thu vàng
Mo quê đổ ánh trăng tan
Cho em nỗi nhớ con đường tịch liêu
Mo cau làm ngựa mỗi chiều
Em ngồi anh kéo rước kiều về dinh
Dòng đời bao nỗi gập ghềnh
Nửa thế kỷ ấy héo tàn bặt tin
Châu về hợp phố nối tình
Mo cau kỷ niệm chúng mình bên nhau.

QUÊ XƯA

Quê xưa chậm bước tôi về
Giữa muôn lá đổ hoa lê rụng đầy
Còn đó mùi khói sương bay
Chiều thu nhạt nắng vàng phai bướm vờn
Còn đó một thuở thong dong
Ẩn trong nhung nhớ ngô đồng xa xưa
Còn đó câu hát ru trưa
Tôi về thăm thẳm đu đưa tuổi buồn
Còn đó ngày tháng chơi rong
Tình yêu tựa gió bềnh bồng mênh man
Còn đó tình khúc thanh xuân
Mộng mơ kết nụ trăm năm ân tình
Còn đó Thiên Bút xanh xanh
Đã xa, xa quá Bàu Giang uốn vờn
Còn đó dãy núi Trường Sơn
Cho tôi huyền thoại con đường hùng anh

DÒNG SÔNG QUÊ TÔI

Từ sông tôi tắm giữa dòng
Bàu Giang cát ẩm ướt lòng bàn chân
Từ sông Trà Khúc trăng vàng
Chèo thuyền bơi ngược Trường Xuân bóng tà
Riêng tôi một góc trời xa
Xót nhau tâm khúc vỡ òa hương xưa
Nghiêng dòng sông Vệ bóng dừa
Cho thuyền ai đậu chờ đưa khách về
Chim kêu hoài hủy trưa hè
Nao lòng lữ khách tái tê lặng buồn
Từ hương thơm quế Trà Bồng
Nghe chim mách bảo lũ nguồn kéo qua
Tôi đi mấy dặm quan hà
Vẫn nghe câu hát dòng Trà câu mơ

La Hà Thạch Trận

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »