Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

    Tintagel from 1500 feet

    Skt Hans aften. Bonfire. Midsummer's Eve.

    Moonlit Dock

    Black Hawk

    Florence Skyline

    Short-billed Dowitcher

     The Elgin Park Book Has Arrived

    Return To Emptiness

    St. Augustine Sunrise

    Dipper (Cinclus cinclus)

    More Photos
  • Tổng lượt xem

    • 395,455 Lượt

CHÙM THƠ LỤC BÁT Của Đặng Toản

Posted by thinhanquangngai1 on 30/06/2015

SOI GƯƠNG

Em ngồi soi bóng trong gương
Nắng vàng tinh nghịch tìm đường chia ngôi
Hồn nhiên chợt vỡ làm đôi
Buồn xòa ấm trán bồi hồi mắt nai
Gió lùa dăm sợi tóc mai
Ngập ngừng môi bậm mi dài cau cau
Ngoài song trời kéo mưa mau
Cuồng phong tỉnh giấc lá sầu chao nghiêng
Dạt dào mưa giọt đầu hiên
Mưa đan thành mái tóc huyền không gian
Mưa đùn nỗi nhớ miên man
Buồn vui thoắt hiện, chợt tan từng vùng
Nẻo về mưa chắn mịt mùng
Dày công gió gọt tròn từng hạt mưa
Mưa ơi! Hãy xóa sầu xưa
Vây cho lòng bé, tròn vừa tay ôm.
Bảo Lộc
5/1985

SÂN SAU NHÀ BÁC KHỐI

Lơ thơ đây cụm mã đề
Kia khoanh diếp cá, mấy về ngò gai
Lối vào cửa thấp rêu phai
Cạnh bên ảng nước một hai bụi gừng
Bao lần bác Khối đã từng
Chế tô mì nóng,vị lừng… sân sau!

TÁN TỈNH

Em ơi mẹ có nhà không?
Anh mang trầu thắm vôi nồng đến thăm
Cau xanh buồng chẵn tròn trăm
Lụa điều còn đợi…nong tằm ăn lên
Hôm nay hên thật là hên
Gặp em hong tóc ngay bên hiên nhà
Anh đi qua ngõ rồi ca
Em nghe cho rõ để mà…ngẩn ngơ (?)
Ca rằng có một tên khờ
Ngày hai buổi chỉ làm thơ ve nàng
Nhà em có bụi cúc vàng
Để cô bướm lượn để chàng ong vây
Trước sân một cụm mai gầy
Gầy như em độ “tao mầy” với anh
Có quê một cục cũng đành
Tình say chí tử mơ thành trăm năm
Tình ba mươi dệt mộng rằm
Chong đèn hột vịt, chống cằm chép thơ
Khuya hoang gục ngủ vật vờ
Vừa hò hẹn đấy không ngờ chiêm bao
Tỉnh ra trời đã lên cao
Thôi thì đành cậy trăng sao nhắn giùm :
“Yêu em rừng nhớ xanh um
Yêu em môi rụng từng chùm…lông măng”
Chữ rằng : ”khẩu thuyết vô bằng”
Thư không dám gởi hát xằng ví điêu
Yêu lâu lòng đã nản nhiều
Thấy em lơ đãng đặt điều gièm pha
Hôm em trao nụ cười hoa
Sượng sùng hối hận biết là…lỡ môi
Ngẩn ngơ nhớ đứng trách ngồi
Ưng thì ừ đại cười mồi làm chi?
Ừ mau kẻo muộn xuân thì
Hay chờ trước ngõ cây si mọc hàng?
Thư thì muốn viết ngàn trang
Gặp em ấp úng mấy hàng khơi khơi
Yêu em chưa mất một đời
Vậy mà được cả một trời…tương tư…
…-Anh ơi! thơ hết rồi ư?
Hát vài câu nữa, em… Ừ cho coi!
Bảo Lộc: 26/3/1992
ĐẶNG TOẢN

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

SAU CƠN ” MƯA HOANG “LÀ…

Posted by thinhanquangngai1 on 26/06/2015

SAU CƠN “MƯA HOANG” LÀ THĂM THẲM NIỀM THƯƠNG, NỖI NHỚ…
(Cảm xúc sau khi đọc tập thơ” Mưa hoang”- Hà Quảng- NXB Văn học, 2015)

Khi đọc một tác phẩm văn học, điều tôi chú ý đầu tiên là nhan đề của tác phẩm đó. Nói như Đào Ngọc Đệ: Nhan đề “như gương mặt của một con người; nó là cái nổi bật nhất để phân biệt tác phẩm này với tác phẩm khác”
Như người bố, người mẹ phải nghĩ suy trăn trở lựa chọn khi đặt tên cho đứa con thân yêu của mình, nhan đề mỗi bài (hay tập) thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết…đều thể hiện sự lao động nghệ thuật của tác giả đối với đứa con tinh thần của mình. Khi ta bắt gặp những nhan đề cũ mèm thể hiện sự lười biếng trong lao động nghệ thuật, tự dưng cảm thấy mất hứng không muốn đọc tiếp tập thơ (hay tập truyện) ấy nữa.
Giữa hàng chục tập sách mới được bạn bè xa gần biếu tặng, tôi chú ý đến tập thơ của tác giả Hà Quảng cũng bởi cái tít khá lạ và độc đáo của anh “Mưa hoang”.
“Cơn mưa hoang rong chơi về phố biển
Gió nồng nàn gợi dáng thu xưa.”
(Mưa hoang)
Bằng nghệ thuật tu từ nhân hóa, tác giả khiến người đọc thú vị khi hình dung ra “cơn mưa hoang” như một chàng lãng tử trẻ tuổi nghịch ngợm, ưa xê dịch. Một chút phiêu diêu, một chút mộng mơ tạo nên sự liên tưởng hư thực, bảng lảng giữa thiên nhiên và trạng thái tinh thần của con người:
“ Em lại tìm em trong ngút ngàn ngày tháng cũ
Em thấy bóng dáng mình bên chùm hoa dại
Em thả hồn trong nắng gió yêu thương
Em dệt vần thơ từng sợi tơ vương
Thảng thốt chiều nay sao dài nỗi nhớ…”
(Mưa hoang)
Trong toàn tập thơ, tác giả dành nhiều thời gian ưu ái viết về tình yêu đôi lứa:
“ mái tóc bay trong chiều lộng gió
phủ xuống câu thơ ngọt mềm”
(Mái tóc em)
Tác giả đã khéo léo sử dụng biện pháp tu từ nghệ thuật hoán dụ “mái tóc” theo phương thức chuyển nghĩa để nói về một bóng hồng mà anh hằng nhung nhớ. “Mái tóc” đó “bay trong chiều lộng gió”, rồi tìm điểm dừng thật nhẹ nhàng, êm ả “phủ xuống câu thơ ngọt mềm”.
“Câu thơ ngọt mềm”. Câu thơ nhờ có hình ảnh mái tóc trở nên dịu dàng, êm ái, đáng yêu xiết bao! Sự chuyển đổi cảm giác trong thơ từ thị giác đến vị giác, xúc giác, thính giác và đến cả linh giác. Bao kỷ niệm thân thương ùa về “mái tóc” như “câu thơ mượt mà”- mái tóc “ thơm hương dịu dàng” là cái cớ để người thơ ấy vấn vương một mối tình trong hoài niệm thẳm sâu…
“ Vần thơ anh viết có tình em
Mái tóc em bay trong gió chiều
Có hương sen tỏa trong hơi thở
Ánh mắt lặng thầm…bao lời yêu”
(Em của tình thơ)
Người đẹp không chỉ hiện lên trong thơ Hà Quảng bằng hình ảnh hoán dụ chọn lọc “mái tóc” mà còn bằng hình ảnh hoán dụ “đôi mắt” nữa:
“ ánh mắt của suy tưởng
của đắm say
cháy bỏng cơn khát
…đôi mắt em
hoang sơ màu tư tưởng
xanh niềm mơ ước
xanh lòng khát khao”
(Cơn khát mắt em)
Vẻ đẹp của đôi mắt ấy không chỉ dừng ở cái nhìn sáng trong, cháy bỏng “như vì sao lấp lánh/ ánh lửa bập bùng” bề ngoài nữa mà nó đã thể hiện rõ vẻ đẹp nội tâm, vẻ đẹp trí tuệ của em rồi. Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Tôi yêu những câu thơ có chiều sâu như thế trong “Mưa hoang” của Hà Quảng:
“ Một chút giận, một chút hờn lăn trên mắt em
Anh bỗng thấy câu thơ tình nặng niềm trăn trở…”
(Một chút giận, một chút hờn)
“ Em mềm mại dễ thương
như vầng trăng tỏa sáng
tỏa sáng vần thơ
tỏa sáng ước mơ
mà sao cũng là bão?
anh bị tấn công
anh bị bao vết thương
bị nỗi nhớ dày vò
anh không chống nổi !
…chiều loang tím
trĩu nặng
bão từ phía em ! »
(Bão từ phía em)
Từ cơn bão Haiyan có thật trong đời, tác giả liên tưởng đến cơn bão «từ phía em» -người con gái «mềm mại dễ thương» với vẻ đẹp tâm hồn thánh thiện «như vầng trăng tỏa sáng». Thoạt nghe tưởng chừng như vô lí nhưng càng ngẫm càng thấy thật hợp lô gic: Chính vì em đẹp thế, em thánh thiện đến thế mới làm lòng anh nổi giông nổi bão bởi «nỗi nhớ dày vò/ anh không chống nổỉ». Đó là cách nói hình tượng đầy chất thơ.
Câu thơ tả tâm trạng này cũng rất gợi :
«em nhìn mưa qua cửa sổ
Chiếc lá vàng lảo đảo
Gợi nỗi niềm yêu thương»
(Sài Gòn bất chợt)
Câu thơ nhân hóa «chiếc lá vàng lảo đảo» khiến ta liên tưởng đến kiếp người mỏng manh «sắc sắc không không» như lá vàng trước cơn mưa gió của cuộc đời; lòng lại thầm mong cho đi và nhận lại thật nhiều yêu thương trong cuộc sống hữu hạn của con người…
Bên cạnh chủ đề chính viết về tình yêu đôi lứa, Hà Quảng cũng dành dụm thời gian viết về tình yêu gia đình, tình yêu quê hương, đất nước. Tình yêu gia đình, quê hương, đất nước trong thơ anh gần gũi thân thương và hòa quyện khăng khít, thắm thiết. Không gian thơ mở rộng đa chiều: từ cơn «Mưa xưa» qua «Chiều mưa Đồng Cát»; từ «Dòng sông quê mẹ» đến «sông Thoa», «sông Dinh»; từ giọt «Nắng phương Nam» đến «Đôi miền thương nhớ»…đâu đâu ta cũng bắt gặp những hình ảnh thân thương, trìu mến, thiên nhiên ấp ủ tâm hồn người :
« Cơn mưa chiều lãng đãng
Dòng sông Thoa thì thầm…”
“ Nắng phương Nam hay tình em là nắng
Nắng dịu hiền mang màu sắc rất riêng
Nắng phương Nam gợi bao điều khao khát
Cứ dập dờn như con sóng triền miên…”
Rất nhiều người đã làm thơ ca ngợi: Mười cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc nhưng Hà Quảng có cách thể hiện riêng. Vẫn bằng thủ pháp tu từ hoán dụ, tác giả dụng công đặc tả về mái tóc- mái tóc của những nữ thanh niên xung phong thời chống Mỹ cứu nước:
“ mái tóc vương vương màu đất
mái tóc vương vương màu khói bom
cây bồ kết trĩu quả tỏa hương
cái lược, cái gương của thời con gái…”
(Mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc)
Không chỉ mở rộng phạm vi thơ ở không gian đa chiều, Hà Quảng cũng rất chú ý đến thời gian trong thơ: quá khứ- hiện tại- tương lai luôn đan cài, trăn trở trong thơ anh. Sau hai mươi năm xa cách, thầy trò gặp lại nhau tại ngôi trường cũ, thầy giáo rưng rưng quan sát các em đi tìm lại bóng dáng, nụ cười, tiếng nói của mình “còn đọng đâu đây nơi lớp học sân trường”. Không có tấm lòng yêu nghề mến trẻ sâu sắc, không thể viết được những câu thơ chân mộc, nặng tình như thế này:
“ Những mái đầu xanh nhuộm vài sợi bạc
Cuộc sống mỗi người nhiều nét đổi thay
Chúng ta vẫn nhận ra bao điều ngày ấy
Niềm yêu thương còn lắng đọng đến giờ!”
(Sau hai mươi năm)
Mùa xuân- thời gian khởi đầu một năm, cả nước dành sự quan tâm cho những người lính trẻ đang ngày đêm canh giữ bảo vệ biển đảo Trường Sa:
“Người dân biết các anh còn nhiều thiếu thốn
Gửi món quà quê mẹ thắm yêu thương
Người vợ gửi cho chồng bằng tình yêu chung thủy
Đứa con thơ gửi cha cái hôn nồng nàn sữa mẹ…”
Tác giả thấm thía một điều: món quà các anh bộ đội Trường Sa cần nhất không phải là giá trị vật chất mà là tình cảm thân thương, trìu mến, chung thủy…từ đất liền dành cho anh, giúp anh có thêm động lực “vững vàng tay súng, bảo vệ chủ quyền lãnh hải biên cương”.
Mùng ba Tết, học sinh đến thăm thầy cũng làm cho tác giả rưng rưng cảm động:
“Chén trà xuân lan tỏa
Không gian tràn nhớ thương
Hương xuân gợi vấn vương
Biết bao điều muốn nói”
(Chiều mùng ba Tết)
Mỗi khoảnh khắc thời gian đi qua cuộc đời cũng chạm vào tâm hồn đa cảm ấy miên man nỗi nhớ
“tháng ba rồi không biết sao đây
nỗi nhớ chất chồng nỗi nhớ
sao nhớ thương không lối đợi
vương vương tóc em nồng nàn”
(Chút nắng tháng ba)
Giọt mưa tháng bảy trong thơ anh cũng vương mang sầu nhớ:
“ Giọt mưa nào rơi bên kia sông
Để giọt bên này nhớ nhung sâu nặng”
(Mưa tháng bảy)
Rồi một đêm tháng mười huyền ảo:
“ anh vịn vào ánh trăng
ánh trăng khuya mềm mại như nỗi nhớ không tên
trĩu nặng bao niềm khát khao…”
( Giữa tháng mười)
Có một mùa thu người thơ ấy ra thăm Hà Nội “thành phố cổ kính trong sắc màu hiện đại”, ngắm hồ Gươm “lăn tăn con sóng” êm dịu, sao anh vẫn cảm thấy như những con sóng ấy:
“Vỗ vào lòng anh
Cứa vào da thịt anh
Nỗi nhớ”
( Mùa thu Hà Nội)
Hơi phóng đại một chút khi nói con sóng lăn tăn nơi Hồ gươm thơ mộng kia lại có sức mạnh “cứa vào da thịt anh nỗi nhớ”. Nhưng nếu đọc kỹ từng bài thơ trong tập thơ” Mưa hoang” của Hà Quảng, mới hiểu người thơ này luôn mượn cảnh tả tình và cảm nhận của anh là hoàn toàn chân thực , bởi “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du).
Thơ Hà Quảng giàu cảm xúc và mang đầy tâm trạng ưu tư hoài niệm:
“ Chiều nay cơn gió liêu xiêu
Còn không nỗi nhớ những chiều mưa xưa?”
(Mưa xưa)
Dẫu có mộng mơ, hoài cổ đến mấy, người thơ ấy vẫn rất tỉnh táo sống cho hiện tại và hướng đến tương lai với cái nhìn lạc quan, yêu đời. Bóc tờ lịch cuối cùng của năm cũ, treo lên tường một bloc lịch mới, anh tự hỏi mình:
“Ta làm được gì sau mỗi bước thời gian”
(Tờ lịch)
Anh ước mong cho mình và cho mọi người cuộc sống ngày càng mới mẻ, tươi trẻ. Đó là thái độ sống của một người đầy lòng tự trọng, biết làm chủ bản thân và làm chủ cuộc đời.
Gấp cuốn sách lại, trong tôi vẫn còn đọng lại dư ba cơn “mưa hoang” phiêu lãng xuyên suốt chủ đề của tập thơ Hà Quảng.Tôi biết anh là một thầy giáo dạy văn cấp ba. Đó là một lợi thế để người thơ không chuyên này áp dụng các biện pháp tu từ về từ vựng (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ…) làm cho nghệ thuật chuyển tải nội dung thơ thêm phong phú, đa dạng. Một ưu điểm về nghệ thuật nữa trong tập thơ này là tác giả đã sử dụng linh hoạt các thể thơ tự do, thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát… khá nhuần nhuyễn, giàu âm thanh, hình ảnh, nhạc điệu. Tôi biết có nhiều người viết thơ không chuyên ở lứa tuổi 5x, 6x thường mắc phải cái lỗi viết thơ theo lối mòn, lặp lại nội dung, cách viết của người khác và lặp lại chính mình. Rất may, Hà Quảng không mắc phải cái lỗi ấy.
Nếu có điều gì mong mỏi hơn ở thơ Hà Quảng, tôi mong anh dồn nén cảm xúc trong từng câu chữ hơn nữa, tạo được nhiều câu thơ “ý tại ngôn ngoại” hơn nữa…Và tôi cũng rất tán đồng với ý kiến xác đáng của nhà thơ Mai Bá Ấn: ”…Chúng ta tiếp tục mong Hà Quảng có nhiều hơn những phút “hóa dại khờ” và “hoang đàng”; nhiều hơn nữa những “ngọn tình âm ỉ cháy” cùng những “hoang sơ mộng mị” ngay chính trong lòng mình để chuyển thi pháp từ “có cớ” sang “vô cớ” ngày một thơ hơn”.
Sìn Hồ, ngày 25. 6. 2015.
BÙI THỊ SƠN
(Hội viên Hội VHNT tỉnh Lai Châu- Hội viên Hội VHNT Các Dân tộc Thiểu số Việt Nam- Hội viên CLB Thơ Việt Nam.)

 

Posted in 03. Bình thơ | Leave a Comment »

HAI BÀI THƠ Của Nguyễn Thị Thu Ba ( Sóng Thu )

Posted by thinhanquangngai1 on 18/06/2015

SÓNG SÔNG TRÀ

Ôi tháng sáu !
Thời gian trôi nhanh quá
Đón tuổi trời
ngày tháng mãi đi qua
Bâng khuâng nhớ
khung trời xưa yêu dấu
Bao nỗi niềm
lưu luyến buổi chia xa
Nghe dân ca
dòng sông vương ký ức
Sóng vỗ về
khe khẽ hát lời yêu
Và trong gió…
trống lòng ai thổn thức ?
Bùi ngùi thương …
sợi tóc điểm sương chiều
Em vẫn nhớ
vẫn yêu từng kỷ niệm
Vẫn ru tình
theo những dấu chân qua
Trong lặng lẽ
tim hồng thêm triều mến
Ngọt ngào ơi !
thương lắm …Sóng Sông Trà
1/6/2014

GIẤC MƠ HOA

Hạ về rồi ! hoa phượng nở đầy sân
Từng cánh mỏng lung linh tia nắng mới
Đêm có nghe vầng trăng xa vời vợi
Hát thì thầm giai điệu mượt mà …. thương
Cùng lời thơ là nốt nhạc vấn vương
Như xoắn xuýt trái tim … tình không tuổi
Em ngây ngất giữa cuộc đời lầm lụi
Mơ từng ngày mắt lá dậy mầm yêu
Dẫu biết rằng ! Hoàng hôn ngã về chiều
Ta vẫn có mùa hè đang dội lửa
Vẫn muốn níu nắng hồng ngoài khung cửa
Sưởi tâm hồn ấm lại giấc mơ hoa
Dù lặng buồn thầm tiếc mỗi xuân qua
Niềm lưu luyến bên anh là có thật
Khi ngọn gió mang đi điều được … mất
Em trải lòng san sẻ chẳng hờn ghen
9 / 5 / 2015
Sóng Thu
(Nguyễn Thị Thu Ba)

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

HÀ QUẢNG VÀ NHỮNG CƠN MƯA bài viết của Lê Nghị

Posted by thinhanquangngai1 on 29/05/2015

HÀ QUẢNG VÀ NHỮNG CƠN MƯA
(Một cảm nhận khi đọc tập thơ “ MƯA HOANG ” CỦA HÀ QUẢNG )

Tôi biết Hà Quảng khá muộn màng. Có thể nói là rất muộn khi anh sở hữu trong tay ba tập thơ in riêng. Cái dáng người cao cao và khuôn mặt trầm tư của anh khiến cho tôi và mọi ngươi mới gặp gỡ lần đầu cảm thấy có gì đấy hơi khó gần … Thế nhưng khi đọc “Mưa hoang”, tập thơ thứ 3 của Hà Quảng, tôi mới vỡ ra rằng bên trong cái vóc dáng đầy trầm tư ấy chứa nhiều lắm sự rung động nội tâm dữ dội.
Tôi thích đọc ngược thơ. Có lẽ vì tôi muốn đi ngược chiều với tác giả để tìm thấy cái thông điệp ẩn mình trong câu chữ. Và với “Mưa hoang” cũng vậy, tôi đã đọc ngược tập thơ từ bài cuối về trước.
Bài “Chiều mùng ba Tết”, Hà Quảng đã để lại trong tôi cái ấn tượng đầu tiên của cái ấm áp đầu xuân khi các em về thăm Thầy cũ. Tiếng cười giòn tan chiều đầu năm tưởng chừng ngọt như kẹo gương ấy được pha thêm chút hương vị của đất trời:
“Giọt mưa xuân rơi rơi
Trên thềm xưa lối cũ
Giọt mưa xuân ấp ủ
Giấc mơ nào cho em…”
Theo kinh nghiệm của các cụ lão nông thì cơn mưa đầu tiên vào những ngày đón chào năm mới là cơn mưa lành, con mưa báo hiệu một năm đầy an vui và sung túc. Phải chăng Hà Quảng cũng muốn vậy và gửi vào chiều mùng ba Tết một cơn mưa như thế?
Hà Quảng và những cơn mưa đã dẫn dắt ký ức đi từ miền xa hút với những rung động nội tâm đầy ắp nỗi niềm:
“Một chiều mưa bên kia sông Vệ
Anh lặng thầm theo ký ức thời gian…”
(Tiếng mưa rơi)
để rồi Hà Quảng nhớ một thời
“… Em của ngày thuở còn đi học
Chiều tan trường trời đổ cơn mưa”
(Tiếng mưa rơi)
và …
“Em xa xôi hiện về nơi bến vắng
Mưa nhòa từng giọt mưa rơi”
(Tiếng mưa rơi)
Thú thật là tôi cũng đã từng ngồi nhìn mưa, nghe mưa nhưng chưa bao giờ thấy “mưa nhòa từng giọt mưa”. Nỗi nhớ ở đây đã được Hà Quảng chồng lên, chất ngất yêu thương. Mưa đi xuyên qua thơ Hà Quảng từ phố thị đến những miền quê:
“Mưa về trên Đồng Cát
Thị trấn nhỏ bình yên…”
(Chiều mưa Đồng Cát)

“ Một chiều mưa bên kia cầu sông Vệ
Anh lặng thầm theo ký ức thời gian…”
Mưa trong “Mưa hoang” đã kéo Hà Quảng đi về miền xa lắc, tận sâu trong miền kí ức:
“ Em bỏ quên cơn mưa chiều năm ấy
Đường Sài Gòn ngập lối anh đi…”
(Bao điều muốn nói)
Để rồi Hà Quảng
“…Câu thơ không cánh mà vương
Để thương, anh nhớ con đường mưa xưa”
( Mưa xưa)
Tôi không thích nhặt từng từ, ghép từng chữ của Hà Quảng để tìm cho mình một sự đồng cảm. Nhưng thực sự, Hà Quảng đã lôi mưa đi khắp cuộc hành trình từ tháng ba, tháng bảy đến tận cuối mùa đông
“ Mưa tháng bảy sao buồn rười rượi
Cầu Ô kia em có đi về…”
(Mưa tháng bảy)
Và rồi
“giữa tháng mười rồi em
ngoài trời đang đổ cơn mưa”
(Giữa tháng mười)
Để rốt ráo lại thì “cơn mưa hoang rong chơi về phía biển” và
“Cơn mưa hoang lặng im
Em thấy mình đơn côi”
(Mưa hoang)
Tôi không là nhà phê bình lý luận văn chương, nên cảm nhận lan man từ những gì “Mưa hoang” mang lại nó không đầu không cuối. Cái bất chợt mưa nắng của Hà Quảng là sự dồn nén ký ức, là sự bùng vỡ của nội tâm mà chẳng biết vô tình hay cố ý mà tác giả đã dắt mưa đi theo kiểu của mình. Sự phân tích kết cấu và ngôn từ thì dành cho các nhà chuyên nghiệp, tôi không dám lạm bàn.
Đứng về góc độ độc giả, tôi chỉ muốn khép lại bài cảm nhận của mình bằng một câu hỏi thôi. “Vì sao tác giả đặt tên cho tập thơ này là MƯA HOANG mà không phải là MƯA HOAN”
Chắc chắn Hà Quảng cũng không muốn trả lời câu hỏi này nhưng trong một sat – na nào đó, tôi tin Hà Quảng và những cơn mưa sẽ mang theo nhiều khúc hoan ca tình ái.
U Minh Thất, 29. 5. 2015
Lê Nghị

Posted in 03. Bình thơ | 1 Comment »

CHÙM THƠ CỦA Trần Công Thạch

Posted by thinhanquangngai1 on 29/05/2015

ĐƯA NHAU VỀ

Hãy đưa nhau về trên lối xưa
Cổ lũy cô thôn rợp bóng dừa
Sóng vẫn xô bờ, ngàn năm ấy
Tìm dấu chân xưa, trên lối xưa

Hãy đưa nhau về với tiếng ru
Là Hà Thạch Trận dệt tình thu
Bàu Giang xuôi chảy về biển cả
Thu của lòng ta, bao nỗi đau

Hãy đưa nhau về với Vạn An
Dòng sông Bến Lỡ uốn miên man
Cầu xưa ván hở đâu còn nữa
Kỷ niệm đong đầy lại trái ngang

Hãy trả lại nhau thuở trinh nguyên
Bao năm cơ khổ lắm muộn phiền
Tình thơ ta dệt muôn vần điệu
Chỉ còn đôi ta một cõi riêng

TẶNG BẠN

Mừng em thuyền cũ, trở bến xưa
Chắp tơ tình, ba mươi năm thừa
Hai con lem luốc, còn trứng nước
“Chén nước đầy vơi” duyên phận xưa!!

Anh rời mái ấm, theo tình mới!
Cô phụ mình em, kể sao vừa!
Thuyền em nhỏ bé, trùng dương sóng
“Sóng tóc bạc đầu”, anh thấy chưa?
Cái “nghĩa tào khang”, em chạnh nhớ!
Thôi đành số kiếp, sống như mơ
Những tưởng tình xưa, giờ trỗi dậy
Nhịp cầu Ô Thước, dệt ước mơ!!
(Anh ơi! Anh đừng tưởng em khờ)

TỰ TRÀO

Năm xuân nhập cuộc “CỔ LAI HY”
Cuộc đời ngắn ngủi, chẳng còn chi!
Người đời lên chức, tăng lương tháng
Tớ tăng huyết áp, thoái sống lưng (mỏi tứ chi)
Cơm hẩm, rau ôi, ngày ba bữa
“Tử quy, sinh ký” đợi cuối đời
Đồng song ngày cũ, còn vài chục
Tóc bạc, răng long, thiếu lại thừa!!

TRẦN CÔNG THẠCH

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

SỐNG CẢM ƠN ĐỜI TRONG TỪNG KHOẢNH KHẮC. Thơ Trần Thoại Nguyên

Posted by thinhanquangngai1 on 29/05/2015

SỐNG CẢM ƠN ĐỜI
TRONG TỪNG KHOẢNH KHẮC

Đời đẹp mong manh! Quá vô thường!
Trái tim ta hỡi! Đập nhịp yêu thương!
Cảm ơn đất trời trong từng khoảnh khắc
Ta hiện hữu giữa lòng bàn tay âm dương!

Nầy gió nầy hoa nầy trăng sao
Và em yêu và cát bụi chiêm bao!
Cảm ơn đời một thoáng vui xanh vĩnh cửu
Giây phút hiện tiền quý giá biết bao!

Hãy vui sống khi ta còn có thể
Hít thở nói cười trên mặt đất cỏ rêu
Dẫu khổ đau có khiến ta nhỏ lệ
Cảm ơn đời vì cuộc sống thật đáng yêu!

Ôi phép lạ thuở trần gian lấp lánh
Nhu giọt sương mai,ánh trăng giải nhiệm màu!
Trong cát bụi có điềm linh thánh
Cảm ơn người ta-sống-với-trong-nhau!

Cuộc sống diệu kỳ! Ta mến thương!
Vô biên xanh khoảnh khắc vô thường!
Cảm ơn vạn hữu hàng hàng thế giới
Hạnh Phúc vô ngần reo trong máu xương!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

HAI BÀI THƠ Của La Hà Thạch Trận

Posted by thinhanquangngai1 on 23/05/2015

QÙA QUÊ

Anh vào thành phố ngày mai
Quà em giọt nước chè hai sông mình
Quà em một trái vã xanh
Quà em hoa cúc nở vàng quê ta
Quà em cá bống sông Trà
Quà em khói rạ, mưa sa mái đình
Để em đỡ nhớ quê mình
Để em ấm áp chân tình cho nhau
Để em thấm đẫm ca dao
Lời ru của mẹ, bầm đau thân còm
Hè sang giữa phố Sài Gòn
Lặng theo nỗi nhớ, tha phương phong trần

VỀ MIỀN KỶ NIỆM

Về ngang Cổ Lũy Cô Thôn
Vỡ ngăn tiếng sóng, nhàu lòng nao nao
Dừa nghiêng tóc xõa rì rào
Trầm tư mái ngói ố màu rêu phong
Về ngang Thạch Bích tà dương
Vỡ ngăn tiếng gió, nhàu con diều buồn
Ngón chân bấu dưới cỏ non
Vấm miền kỷ niệm, lối mòn ngổn ngang
Về ngang thành phố đầu xuân
Tô don nóng hổi, tần ngân hoàng hôn
Chợt nghe tiếng vọng tháp chuông
Vỡ ngàn ưa bụi, đêm buông nhàu tình

20/2/2015
Mồng 2 tết Ất Mùi
La Hà Thạch Trận

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

KHÚC RU TÌNH MẸ Thơ Bùi Ngọc Anh

Posted by thinhanquangngai1 on 23/05/2015

KHÚC RU TÌNH MẸ

Mẹ đang say với giấc nồng
Con ngồi bên mẹ ngóng trông, thẫn thờ
Chợt từ một thưở ấu thơ
Tiếng ru của mẹ ầu ơ…vọng về…
Trăng gầy mờ ảo vườn quê
Năm canh mẹ thức vỗ về con yêu
Một đời tần tảo,chắt chiu
Chén cơm, manh áo sớm chiều mẹ bươn
Quản gì dãi nắng dầm sương
Thân có lặn lội, nhọc đường chông gai
Ngày qua tháng lại miệt mài
Cong lưng mẹ gánh, quằn vai mẹ gồng
Để cho con cả trời hồng.
Thổi hồn con chiếc cầu vồng thần tiên
Mẹ như dòng suối dịu hiền
Mẹ trong con những thiêng liêng, tự hào.
Mẹ giờ sức yếu tuổi cao
Lơ mơ sợi nhớ, chênh chao sợi tình.
Mẹ đâu còn nhớ về mình
Trí nhân bỏ ngõ, tâm linh đâu còn
Nhìn thân xác mẹ hao mòn
Đẫm trong con tấm lòng son mẹ hiền
Ngủ đi mẹ, giấc bình yên !
Trong mơ mẹ thấy nghiêng nghiêng cánh cò
Và dòng sông với con đò
Cây đa, bến nước… điệu hò quê hương
Lặng ngồi yên giữa đêm trường
Con ngồi trông mẹ…yêu thương ngập hồn./.

17//3/2015
Bùi Ngọc Anh

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

MÁI TRƯỜNG XUA Thơ Nguyễn Thị Thu Ba ( Sóng Thu )

Posted by thinhanquangngai1 on 23/05/2015

MÁI TRƯỜNG XƯA
( kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường )

Em đã về thăm lại mái trường xưa
Hàng phượng vĩ nghiêng nghiêng mùa chờ đợi
Cành lộc non dịu dàng mang hè tới
Nhuộm sân trường cháy đỏ gót thư sinh
Tư Nghĩa ơi ! Kỷ niệm của chúng mình
Giờ đến lớp đùa vui cùng bè bạn
Chút vẩn vơ chút dại khờ … lãng mạn
Chút giận hờn vô cớ chẳng vì đâu
Những bài thơ nghịch ngợm chuyền tay nhau
Dòng lưu bút chia xa … niềm lưu luyến
Chiều ngẩn ngơ rung đưa bằng lăng tím
Buổi tan trường áo trắng dập dìu bay
Sắc phượng hồng rực rỡ đậu trên vai
Ve khúc khích nghe lòng bâng khuâng quá
Quả bàng rụng phơi mình trong nắng hạ
Ôi sân trường nhớ lắm ! dáng Thầy Cô
Ngói đỏ tươi chen chúc lá nhấp nhô
Tường vôi trắng thơm thơm mùi hương mới
Bao nhiêu năm trở về … lòng phơi phới
Bên mái trường yêu dấu khắc trong tim
25 / 4 / 2015
Nguyễn Thị Thu Ba
( Sóng Thu )

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

HÀ QUẢNG VỚI TẬP THƠ ” MƯA HOANG ” – NXB Văn học. 2015

Posted by thinhanquangngai1 on 11/05/2015

bia tho Mua hoang

THƠ, CÓ CỚ VÀ VÔ CỚ

Sinh ra và lớn lên ở bờ Bắc sông Vệ (Nghĩa Hiệp, Tư Nghĩa). Dạy học và cư trú ở bờ Nam sông Vệ (Đức Nhuận, Mộ Đức). Thơ Hà Quảng bắt nguồn từ đôi bờ sông thao thiết gió ấy. Có lẽ do sống giữa đôi bờ, nên con sông Vệ được Hà Quảng khám phá ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
Sinh ra, lớn lên ở đó; dạy học, làm thơ ở đó nên Hà Quảng có điều kiện để quan sát và cảm nhận về kỷ niệm, về hiện thực đôi bờ sông Vệ. Lỡ khi kỷ niệm cạn nguồn, anh lại được tiếp sức bởi lớp lớp học trò phổ thông trung học vô tư, hồn nhiên và mơ mộng. Tất cả đó tác động trực tiếp vào tâm hồn người thầy để bật dậy tiếng thơ trước muôn màu hiện thực. Nếu ai đó thử làm thống kê và nhận ra số lượng bài thơ viết về sông Vệ qua ba tập thơ của anh: “Con sóng tình yêu” (2010), “Thao thức” (2013) và “Mưa hoang” (2015) chiếm một tỷ lệ rất cao cũng đừng nên lấy đó làm ngạc nhiên. Thơ ca truyền thống thường “Tức cảnh sinh tình” mà!
Cũng chính từ xuất phát điểm này, mà về sau khi đi đến vùng quê mới nào, anh cũng có thơ. Nghĩa là lại cũng “Tức cảnh sinh tình” như thế. Viết lời Bạt cho tập “Thao thức” của anh, tôi đã giật tít bài là “Hà Quảng – Thao thức những miền quê”. Chính vì lẽ đó, tôi nhận ra, thơ Hà Quảng nghiêng về “Thơ có cớ”, còn “Thơ vô cớ” xuất phát từ quằn quại nội tâm chính mình, không dựa vào “cái cớ” nào cả thì còn rất ít. Cũng chính vì lẽ đó mà thơ Hà Quảng ít có được những bứt phá nội tâm dữ dội. Ít có những tiếng “nổ ngầm” phát ra từ chính con tim nung nấu của riêng mình. 48 bài thơ trong tập “Mưa hoang” này cũng thế! Hầu hết đều có “cái cớ” của nó. Ví như: “Chiều sông quê”, “Dòng sông quê mẹ”, “Ngày mai em về sông Vệ”, “Chiều mưa Đồng Cát”, “Mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc”,“Quy Nhơn ngày về”, “Một thoáng La Gi”, “Nắng phương Nam”… Ở quê thì “có cớ” của tình quê:
Em có biết nơi thôn nghèo bên dòng sông Vệ
Tuổi thơ anh lớn lên theo lớp học trường làng
(Chiều sông quê).
Đi xa thì “có cớ” của những tình xa:
Mười vòng hoa trên mười ngôi mộ
Mười bát nhang nghi ngút hương trầm
(Mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc)…
Cả những bài thơ nếu lướt qua đầu đề tưởng là “vô cớ”, khi đọc kỹ ta vẫn thấy “có cái cớ” của nó:
Anh gặp em một ngày nắng đẹp
trời bình yên
gió sông Trà lặng lẽ
(Thời gian đừng qua mau)…
“Thơ có cớ” của Hà Quảng dung dị, gần gũi với thi pháp truyền thống, hợp với nghề của anh và được học trò anh đón nhận. Đó là những câu thơ không làm dáng nhưng có dụng công. Phần ý thức của người làm thơ mạnh hơn phần vô thức. Cũng là nhà giáo làm thơ nên tôi rất hiểu cái tâm người thầy trong từng bài thơ Quảng viết. Nhưng hình như, cái người thầy dạy văn Đoàn Văn Khánh (tên thật của anh) có phần “lãnh đạo” người thơ Hà Quảng bằng những “chỉ lệnh” hơi quá khắt khe nên người đọc cứ có cảm giác tiêng tiếc về một sự bứt phá cùng với chút lãng đãng, mơ màng pha đôi chút liêu trai để mặc sức cho con người mơ mộng.
Nói điều này, cũng để xin báo hiệu với anh em rằng, so với hai tập thơ đầu, tập thơ này ta đã thấy hé lộ một Hà Quảng bắt đầu hành trình vào “Thơ vô cớ”, bắt đầu có những bộc vỡ tự nội tâm, tự đào sâu vào chính mình để mộng mơ hơn một chút, phá cách hơn chút nữa, đưa những bài “thơ- rõ-ràng- ý” sang những bài “thơ-cô-đặc-tứ”. Ngay cái tên “Mưa hoang” của tập thơ này đã nói lên điều đó.
Và trong những bài “thơ vô cớ” ấy, ta bắt gặp những câu thơ đẹp và lạ hơn, bắt gặp một Hà Quảng mới:
– chiều về chậm chậm
mấy chú ve sầu giữa tháng tư đi đâu
(Nỗi nhớ)
– Mái tóc của ai thời đi học
Về trong giấc mơ
(Em có phải là cô gái ấy?)
– Em ao ước trở thành loài hoa dại
nên thơ anh cũng hóa dại khờ
(Tình anh)
– Ngọn lửa tình vẫn ầm ĩ trong anh
sao anh khao khát chút nắng vàng bên khe suối
(Ngọn lửa tình)
– Chiều hoang sơ mộng mị
Em đi tìm nghĩa chữ yêu?
(Mưa hoang)…
Vâng! Chúng ta tiếp tục mong Hà Quảng có nhiều hơn những phút “hóa dại khờ” và “hoang đàng”; nhiều hơn nữa những “ngọn tình ầm ĩ cháy” cùng những “hoang sơ mộng mị” ngay chính trong lòng mình để chuyển thi pháp từ “có cớ” sang “vô cớ” ngày một thơ hơn.
Xin vui mừng giới thiệu tập thơ thứ ba của Hà Quảng – “Mưa hoang” cùng bạn đọc xa gần!
Xóm Chòi Dầu, Nguyên tiêu Ất Mùi, 2015.
Nhà thơ, Tiến sĩ MAI BÁ ẤN

CHÙM THƠ TRONG TẬP “MƯA HOANG”

CHIỀU SÔNG QUÊ

Anh thả hồn cùng dòng sông quê
Nước chậm trôi năm tháng vọng về
Bãi bắp ngày xưa cha xẻ hàng gieo hạt
Lá lên xanh nhịp võng trưa hè.

Lũy tre làng hát khúc tình ca
Tình yêu em và con sông quê mẹ.
Em có biết nơi thôn nghèo bên dòng sông Vệ
Tuổi thơ anh lớn lên theo lớp học trường làng.

Em có lần về thăm Đồng Viên
Nơi có bậc sinh thành
Để bây giờ có anh có vần thơ…
Yêu thương biết mấy
Sông Vệ trôi chiều lắng đọng suy tư.

Chiều sông quê dào dạt ước mơ
Tiếng sáo diều ngân nga triền sông trầm lắng
Con đường làng vương vương màu nắng
Hoa ngọc lan nhà ai…theo gió đi về.

TÌNH EM

Nơi em sinh ra và tuổi thơ em ở đấy
Sông Vệ chầm chậm trôi
Anh đón cơn gió về đèo Eo Gió
Anh đón tình em từ cơn mưa.

Tình em tựa khúc dân ca
Mượt mà dòng suối chảy
Hoa dại bên đường ngẩn ngơ
Hành Nhân chiều tháng bảy.

Anh cảm nhận sự bình yên
Anh cảm nhận bao điều hạnh phúc
Những câu thơ tỏa ra từ lồng ngực
Những câu thơ xanh trong giấc mơ…

Tình em như sa mạc bao la
Như mảnh trăng khuya bầu trời xa lắc
Như mảnh trăng khuya mơ màng vằng vặc
Trăn trở hoài có lắng đọng suy tư?

NGÀY MAI EM VỀ SÔNG VỆ

Ngày mai em về sông Vệ
Mây buông tím trời nhung nhớ
Tình em nỗi niềm trăn trở
Có người mong đợi chờ em.

Ngày xưa vụng về câu nói
Ngày xưa chỉ có trong mơ
Bây giờ sương giăng lạc lối
Bây giờ chỉ biết ngẩn ngơ.

Trách cho tơ duyên trắc trở
Tơ duyên sao quá phũ phàng
Sông Vệ cứ trôi chầm chậm
Lặng thầm ôm mộng tương tư.

Ngày mai em về sông Vệ
Nhớ thương con sóng vỗ bờ
Nhớ thương ngày xưa còn đó
Trăng mờ lạc lõng bơ vơ.

Chuyến đò giờ đã sang ngang
Chuyến đò bên kia sóng nước
Nỗi niềm làm sao nói được
Thôi đành… khoảng lặng trong anh.

CHIỀU MƯA ĐỒNG CÁT

Mưa về trên Đồng Cát
Thị trấn nhỏ bình yên
Để lòng ai nhung nhớ
Một khoảng trời vô biên…

Chiều Đồng Cát loang tím
Gió sông Thoa tràn về
Em xa mờ heo hút
Giọt mưa dài lê thê!

Ly cà phê chờ đợi
Tí tách từng giọt rơi
Em cõi miền mờ ảo
Sao sóng lòng đầy vơi?

Cơn mưa chiều lãng đãng
Dòng sông Thoa thì thầm
Bây giờ em xa cách
Để lòng ai nhớ mong.

Mưa về trên Đồng Cát
Con sóng vỗ đôi bờ
Ai âm thầm lặng lẽ
Cơn gió nào bơ vơ?

THỜI GIAN ĐỪNG QUA MAU.

Anh gặp em một ngày nắng đẹp
trời bình yên
gió sông Trà lặng lẽ
chiếc lá vàng rơi nhẹ
nơi góc phố ta ngồi.

anh trầm tư theo dòng mơ tưởng
em lặng thầm theo nỗi nhớ mùa thu
con sông Trà
mùa nước đầy
mùa nước cạn
bao mùa thu ra đi
mùa thu lại về.

trời Quảng Ngãi giăng giăng mây tím
em dịu hiền man mác dáng thu
trong khoảng lặng thinh
chiếc đồng hồ
tích tắc
tích tắc…
từng tiếng buông rơi.

mùa thu về thật hay
nơi góc phố chúng mình tâm sự
cảnh vật đang suy tư
cảnh vật đang ao ước
thời gian đừng qua mau…

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

MAI EM VỀ Thơ Nguyễn Thị Thu Ba

Posted by thinhanquangngai1 on 07/05/2015

MAI EM VỀ

Mai em về
Đất Mẹ dệt yêu thương
Nơi quê hương có điệu hò Ba Lý

Nơi sinh ra
những trái tim binh dị
Để khi xa
ầm ỉ nhớ trong lòng

Mai em về
có còn ai đợi mong
Bước rong ruỗi
dưới hoang hôn rực rỡ

Con đường nhỏ
thấm sâu từng nỗi nhớ
Giữa phố chiều
hé mở trái tim yêu

Mai em về
rộn rã tiêng chim kêu
Mảnh vườn cũ
nỡ nhiều hoa kỷ niệm

Dòng sông xanh
con đò đưa ẩn hiện
Chở nỗi niềm
lưu luyến cuộc tình đau

20 / 3 / 2014
Nguyễn Thị Thu Ba
( Sóng Thu )

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

Hai bài thơ của Khắc Minh

Posted by thinhanquangngai1 on 07/05/2015

CHÂN MÂY ĐIỆP KHÚC 10
Trên đồi Thiên Ấn thăm mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng

Tay cao với ngọn Trời chiều
Đinh nghiêng im dáng hắt hiu mộ hồn
Vọng âm chuông thở nhịp buồn
Theo chân dấu nắng dỗ cồn cát xa
Người đi cát bụi ngạt nhòa
Tôi về sầu trải bao la ngậm ngùi

BA GIA
Tôi về phía mặt trời buồn
Một con quạ đứng trên non gọi hồn
Giăng mưa chiều ngủ hoàng hôn
Một con cuốc gọi bên sông nhớ người
Sương mù lã ngọn non côi
Một con nhạn đứng bồi hồi nhớ trông
Tôi về xác chết đầy đồng.

Khắc Minh

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

NHỚ TRÀ QUÝT Thơ Hồng Phúc

Posted by thinhanquangngai1 on 30/04/2015

NHỚ TRÀ QUÝT

Một thoáng nhớ về Trà Quýt xưa
Trăng lồng mái lá rọi song thưa
Vo ve đàn muỗi đêm ” Oanh tạc ‘
Sông vắng mái chèo im tiếng khua

Ễnh ương ca điệp khúc oang..oang
Dế dạo cung đàn tiếng thở than
Lữ khách xao lòng tim thổn thức
Chập chờn mi khép ngày vừa sang .

Buổi sáng cùng nhau đến xóm làng
Tuyên truyền kiến thức đến người dân
Trồng và xử dụng thuốc Nam dược
Phấn khởi ,hăng say bước rộng ràng

Trà Quýt quê nghèo ấy cũng sang
Cơm canh Bình Bát với Tôm Càng
Một ngày tiêu chuẩn ba đồng chẳn
Ấy thế mà vui..Dậy cả làng .

Một tháng trôi nhanh quá lẹ làng
Tạ từ lưu luyến dạ mênh mang
Gửi trao Trà Quýt tình lưu luyến
Nhớ mãi tấm lòng xứ Hậu Giang .

Hồng Phúc

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

SÓNG THU Thơ Nguyễn Thị Thu Ba

Posted by thinhanquangngai1 on 30/04/2015

SÓNG THU

Em qua giữa phố đông
Mùa thu về vàng nắng
Bỗng nghe lòng trống vắng
Chợt nhớ thời xa xôi

Kỷ niệm xưa đâu rồi
Còn chăng hay đã mất ?
Gió lay hồn phơ phất
Giữa cuộc đời nắng mưa

Dòng sông yêu ngày xưa
Bỗng nhiên thành xa lạ
Cuộc đời như chiếc lá
Đổi màu theo tháng năm

Ánh trăng mờ xa xăm
Rời vị sao đơn lẻ
Nỗi đau còn thỏ thẻ
Phảng phất giữa vô thường

Qua rồi thời vấn vương
Nhịp sóng tình nông nỗi
Anh có nghe gió thổi
Xào xạc cõi hoang vu

Tê buốt làn sóng thu
Lặng thầm tim tan vỡ
Hoa vàng rơi trước ngõ
Chợt nghe hồn bâng khuâng.

Nguyễn Thị Thu Ba
31/ 8/ 2013

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

NHỚ BIỂN Thơ Khắc Minh

Posted by thinhanquangngai1 on 30/04/2015

NHỚ BIỂN

Ngày xưa ráng tựa áo hồng
Cho vàng nỗi nhớ mênh mông màu trời
Nắng chiều thao thức ngoài khơi
Hoàng hôn háo hức gọi vời dáng trăng

Biển chiều thức đợi Hải đăng
Lập lòe đóm sáng đêm nghiêng hững hờ
Cuối ngày trời đất vào thơ
Dịu dàng trăng nhú ôm bờ cát xa

Núi sông mây nước bao la
Gió hôn khe khẽ rung tà áo bay
Hương nồng ngày ấy còn đây
Tôi về trước biển vơi đầy mắt trông

Bây giờ đêm mỏng mênh mông
Lung linh kỷ niệm bềnh bồng trong tôi
Khi về lòng vẫn rối bời
Ngồi nghe sóng vỗ bồi hồi nhớ ai ?

Khắc Minh

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

LUỘC CẢI NGỒNG Thơ Phạm Dương

Posted by thinhanquangngai1 on 04/04/2015

                                     LUỘC CẢI NGỒNG

Nhớ quê luộc ngọn cải ngồng
Nấu nồi canh hẹ cho lòng nguôi ngoai
Vị quê cải đắng ,hẹ cay
Theo tôi suốt những tháng ngày ly hương
Nhớ quê tìm miếng kẹo gương
Dừng chân quán võng bên đường đu đưa
Ru mình về lại ngày xưa
Cái thời dồng dỗng tắm mưa ngày hè
Trèo xoài,trèo ổi, hái me
“Té trật cù lẵng”bánh chè hỗng kinh
“Trật trìa…” ngủ trợt ngủ nghinh…”
“Nước ngập lút chách” quê mình Bậu wơi!
Dù xa cuối bể cùng trời
Sao quên chất giọng quê tôi ấm nồng
Nhớ quê luộc ngọn cải ngồng
Chấm cùng mắm cái nhủ lòng xuân sang
Tìm về hương vị tô DON
Ngêu ngao ba lý tình tang một thời…
Tìm về tím dậu mùng tơi
Canh nghèo nêm ngọt những lời Mẹ ru
Sắc không một cuộc phù du…
Phạm Dương

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

NHẠC TRỊNH – ĐÔI DÒNG TƯỞNG NIỆM – Bài viết của Trần Thị Cổ Tích

Posted by thinhanquangngai1 on 31/03/2015

NHẠC TRỊNH- ĐÔI DÒNG TƯỞNG NIỆM
1.Chiều mưa năm ấy, trên căn gác nhỏ, hai chị em gái nằm gác chân lên nhau, đầu gối tay, nhìn ra khung cửa sổ.Ngoài ấy là vòm cây trứng cá lá xanh rờn điểm những hoa trắng li ti đang nhỏ từng giọt mưa xuống con đường Quang Trung dài hun hút, thưa vắng bóng người. Ngắm mưa, nghe mưa và nghe nhạc là thú vui của hai chị em vào những chiều đông rảnh rỗi .Bài ca trong băng cassette chị mới mua về làm em gái giật mình…” Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động. Làm sao em biết bia đá không đau?…” Lần đầu tiên cô bé nghe một ca khúc lạ thường như thế. Ca từ và hơi nhạc làm xao động tâm hồn cô bé tuổi mười lăm, lứa tuổi đang nao nức rộng mở cõi lòng đón nhận những điều mới mẻ, lứa tuổi bắt đầu biết lắng nghe từng sợi tơ rung nhẹ trong trái tim mình.Cô nhìn mưa, lạ lẫm như chợt thấy lần đầu.Mưa như một lời hẹn ước, một chờ đợi mơ hồ, một nỗi lòng khắc khoải .” Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng.Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…” Bài ca khép lại ở đó , đồng thời mở ra một chân trời mới trong từng cảm xúc, từng cảm nhận của cô gái. Nhạc Trịnh Công Sơn đã lưu lại trong lòng cô. Và không phải chỉ mỗi mình cô…
2. Quảng Ngãi dần dần mọc lên những quán cà phê mang tên Diễm Xưa rồi Hạ Trắng , Biển Nhớ, Mưa Hồng…Chưa biết cà phê ở đó ngon dở thế nào, chỉ cần nhìn tên quán- tên những ca khúc TCS- là người ta sẵn sàng bước vào với niềm háo hức như đến một nơi hò hẹn thân quen.Ở đó ranh giới tuổi tác không còn. Bên ly cà phê, bên tách trà, họ lắng nghe giọng ca Khánh Ly truyền đi cái chất nhạc mang- mang- nỗi- buồn- thánh- thiện và thấy gần gũi nhau vô cùng.Những người già như thấm thía hơn nỗi đời. Những cặp tình nhân dường như đang học cách yêu thương từ ca khúc của Trịnh.Tình yêu trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng, bao dung. Có tìm đến nhau, có hò hẹn, có mong chờ. Giận hờn đấy, buồn đau đấy, xót xa chia lìa đấy nhưng dường như tình yêu không hề tan vỡ, không hề biến mất mà cứ khói sương lãng đãng suốt một đời. Những chàng trai mười bảy, mười tám thuở ấy thường mượn một chỗ ngồi trong quán , nghe nhạc để làm thơ, để ngóng đợi người mơ, một tà lụa trắng, một suối tóc mềm, một bờ vai nhỏ, tiếng guốc khẽ khàng trên hè phố để rồi nhờ nhạc nói hộ nỗi niềm. “ Em đi qua chốn này…sao em đành vội. Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài…” Lời ca cuốn theo bước chân” người ấy” như một lời ngỏ nhẹ nhàng, kín đáo, cũng có thể là một cách trêu ghẹo dễ thương chẳng làm cho ai phải bực mình.Nhưng đâu phải chỉ có những tình ca đến với lòng người….
3. Năm 1972, 1973… với những đêm lửa trại ở các trường học phố Quảng. Bầu trời lấp lánh sao. Những đôi mắt lấp lánh dõi theo ngọn lửa hồng bốc cao, hừng hực.Tiếng ca bay lên …” Mặt đất bao la anh em ta về gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng. Trời rộng bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam…nối liền một vòng tử sinh…” Không có buổi sinh hoạt nào thiếu những lời ca ấy. Những lời ca đưa tình người gần lại.Từng đóm bụi tro sáng lên cùng ánh lửa rồi lụi tàn, mất hút giữa không gian tối đen gợi lòng ta liên tưởng đến cái hữu hạn, cái mong manh của một kiếp người. “ Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi cát bụi mệt nhoài. Tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi…” Tiếng động ấy là nhịp thời gian hay tiếng đinh đóng vào cỗ quan tài? Sống trong một hiện tại đầy rủi ro bất trắc, tương lai là một dấu chấm hỏi lớn thì cái chết là nỗi ám ảnh của con người dù đang ở tuổi đôi mươi. “ Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng. Đại bác nghe quen như câu dạo buồn…” Tuổi trẻ phố thị dần dần nhận diện chiến tranh và thân phận con người từ những” Ca khúc da vàng”, “ Kinh Việt Nam” luôn được hát vang trong những đêm lửa trại, trong những đoàn du ca ngày ấy.Ca khúc Trịnh Công Sơn, tâm hồn chàng phiêu lãng họ Trịnh, đã thấm vào chúng tôi từ những năm tháng tuổi trẻ cho đến tận hôm nay và chắc chắn sẽ lưu lại mãi đến khi chúng tôi giã biệt cõi đời. Tôi chỉ biết nói “ Tạ ơn ông”.Ngày ông mất tôi không có cơ duyên đưa ông về với đất. Ngày 1- 4 năm nay có ai đó đến viếng ông xin ngắt giùm tôi từng đóa hoa hồng trắng tung nhẹ lên phần mộ ông thay lời tưởng niệm.
TRẦN THỊ CỔ TÍCH ( 2005)

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

BỜ XE NƯỚC – QUẢNG NGÃI. Đồng Sa băng

Posted by thinhanquangngai1 on 25/03/2015

1002834_481891941904513_1756092513_n

BỜ XE NƯỚC – QUẢNG NGÃI

Thân tặng đồng hương Quảng Ngãi, để nhớ về tiền nhân của chúng ta, trong niềm tự hào bởi một công trình vô tiền khoáng hậu, một công trình thủ công xuất phát từ những bộ óc và công sức của những người dân chơn chất, chân lấm tay bùn: “Nông dân xứ Quảng”. “Đã bao lâu rồi không về miền Trung thăm người emNắng mưa đêm ngày cách trở giờ xa xôi đôi đườngNgười ơi có về miền quê hương Thuỳ Dương …” Tiếng hát ấm áp của Quang Lê trong đêm Hè nóng bức đã làm lòng người tha hương càng thêm ray rức nỗi nhớ. Dù ở tận trời Tây, miền Đồng Tháp, trên cao nguyên Lâm Viên, hay giữa đô thành nắng ấm Sài Gòn, những người con của miền Trung nói chung, và Quảng Ngãi nói riêng, khi nghe những lời hát trên chắc sẽ nhớ về quê hương. Nỗi nhớ bao la rồi sẽ cô động lại trên mảnh đất nhỏ bé thân yêu nơi họ chào đời. Vì nơi ấy có biết bao nhiêu kỷ niệm, và cuộc sống đã hòa quyện vào ký ức. Rồi ký ức sẽ lần mò về những ngày xa xưa, và trong giây phút nào đó những ký ức nhạt nhòa cũng tự hỏi: “Ờ, quê hương Quảng Ngãi ngày xưa có gì hùng vĩ nhỉ??!!”Câu trả lời chắc chắn sẽ là: bờ – xe – nước.Đúng vậy, những bờ xe nước khổng lồ trên đất Quảng đã đi vào lòng biết bao nhiêu người con xứ “Nẫu”.Bờ xe nước đã gắn bó mật thiết với những người nông dân trên con đường dẫn thủy nhập điền, để ngày đêm đã tưới biết bao nhiêu cánh đồng lúa trên quê hương Quảng Ngãi. Ngoài công việc quay tròn bên bờ sông, mang nước đưa về những cánh đồng nằm cheo leo khắp nơi, bờ xe nước Quảng Ngãi còn là một thắng cảnh hùng vĩ, có một không hai trên quê hương Việt Nam. Và bờ xe nước cũng là niềm tự hào của những người con xứ Quảng. Những du khách, kể cả những người từ Tây phương, nếu có lần đi ngang qua hoặc dừng chân bên bờ sông Trà Khúc hoặc sông Vệ trong những ngày muà, chắc sẽ được thấy bờ xe nước ngạo nghễ và cao lớn đang quay đều bên bờ sông, mà lòng khâm phục những người tạo dựng lên nó. Rồi con người nhỏ bé, đứng nhìn những hạt nước nhỏ li ti như sương mù bao quanh những bánh xe khổng lồ, có lẻ cũng thắc mắc: không biết ai là người sáng chế ra bờ xe nước? Đi ngược thời gian để tìm câu trả lời cho câu hỏi trên, một nhà hành chánh của sở Văn Hoá Pháp, P. Guillenminet, trong tạp chí Bullettin des Amis du Vieux Huế (BAVH) trong bài “Một kỷ nghệ của người Annam: Những bờ xe nước ở Quảng Ngãi”, ấn bản năm 1926, Volumn 2, chương VI, đã khảo cứu và ghi nhận như sau: “Bộ giáo khoa tổng hợp của Trung Hoa, Châu Chí Tổng Khảo, diễn tả rằng bờ xe nước làm bằng tre, được đẩy bởi dòng nước, tồn tại tại Trung Hoa và đặc biệt là ở phía nam. Một số nhân viên phái đoàn phòng thương mại của thành phố Lyon, Pháp, cho rằng đã thấy bờ xe nước hiện hữu tại làng Thất Xuyên, Trung Hoa. Và phái đoàn quân sự lại nói rằng bên kia ranh giới Việt-Hoa có bờ xe nước tương tự như bờ xe nước ở điạ phương của họ. Ở đồng bằng Bắc phần lại cho rằng bờ xe nước phát xuất từ Trung Hoa và người sáng chế ra là vua Thần Nông. Nhưng những bàn luận về nguồn gốc tác giả nêu trên không đủ căn bản để thuyết phục rằng Trung Hoa là nơi phát minh ra bờ xe nước.” P. Guillenminet tin rằng người Việt và người Trung Hoa có lẻ đã học được kỷ thuật căn bản thành lập bờ xe nước từ phương Tây và đã cải biến cho phù hợp với địa phương.Có ngưồn lại cho rằng viên chủ sự hành chánh Pháp, LaPorte, ở Quảng Ngãi nói rằng “Lão Thêm” ở làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, đã sáng chế ra bờ xe nước.Cũng theo tạp chí BAVH, thì bờ xe nước xuất hiện ở đồng bằng Bắc phần, Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa, Bình Định vào giữa thế kỷ 18 và Quảng Nam đầu thế kỷ 19. Nhưng những bờ xe nước ở những địa phương trên rất đơn sơ, chỉ có một bánh và không qui mô như những bờ xe nước tại Quảng Ngãi. Khi đề cập đến những bờ xe nước tại Quảng Ngãi, nhà hành chánh P. Guillenminet đã ghi nhận rằng: Vợ chồng Lão Diệm, và nhất là người đàn bà gọi là “Mụ Diệm” đã có công mang bờ xe nước từ Bình Định vào làng Bồ Đề , Quảng Ngãi, năm 1754. Bờ xe nước đầu tiên được thiết lập trên bờ sông Vệ, làng Bồ Đề, và Trùm Sanh với chức vụ Cai Yến Bối quản lý bờ xe nước này. Đến năm 1825 bờ xe nước được thành lập trên sông Trà Khúc và đến năm 1900 thì bờ xe nước trên sông Trà Bồng cũng được thiết lập(*).Dường như mãi đến ngày nay, vấn đề xuất xứ và tác giả của bờ xe nước vẫn còn là một ẩn số của một phương trình bậc n, mà nghiệm số có thể chỉ có một, hai, hoặc nhiều hơn, và cũng có thể thực hay ảo. Tùy người suy nghiệm.Duy chỉ có điều cần ghi nhớ là người Á Đông nói chung, và Việt Nam nói riêng, lúa gạo là thức ăn chính trong mỗi bữa ăn. Không như người Tây phương dùng bánh mì đệm trong những bữa ăn. Và điều khác biệt là những cánh đồng lúa mì không cần nhiều nước trong qúa trình trồng tỉa như lúa gạo, ngoại trừ lúa gieo. Thậm chí những cánh đồng lúa mì tại miền bắc Mỹ ngày nay, từ ngày gieo hạt đến ngày thu hoạch, đồng lúa mì lúc nào cũng khô ráo.Thế nhưng công trình xây dựng những bờ xe nước tại Quảng Ngãi rất tốn kém, và mỗi năm bờ xe nước phải phá đi và tái tạo vào năm tới vì vấn đề lụt lội hằng năm. Không như những cánh đồng ở miền Nam Việt Nam, đất thấp và có nhiều hệ thống sông, kinh rạch chằn chịt cung cấp cho ruộng lúa; Phần nhiều, ruộng lúa ở miền Trung nằm dọc theo rặng Trường Sơn, nếu thiếu vắng bờ xe nước thì những cánh đồng khô nức nẻ sẽ không đủ năng suất tạo ra lúa gạo nuôi dân. Vậy bờ xe nước là sự cần thiết trong mạch sống của người dân xứ Quảng. Những nơi khác, như Trung Hoa, nếu đã xử dụng bờ xe nước qui mô mhư tại Quảng Ngãi cho công trình dẫn thủy nhập điền, thì chắc hẳn sẽ được lưu lại trong lòng người dân những hình ảnh và văn hóa của địa phương ấy cho hậu thế.Những bờ xe nước tại Quảng Ngãi đã đóng một vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp địa phương trên hơn ba trăm năm kể từ năm 1754. Mãi đến khoảng đầu thập niên 1980, khi hệ thống kênh Thạch Nham được thành lập cho công trình dẫn thủy nhập điền, thì những bờ xe nước được thay thế bằng những trạm bom. Và kể từ đó những bờ xe nước Quảng Ngãi chỉ còn là một dấu vết lịch sử của một thời mang nước cho dân.Người viết, cũng một thời đã sống bên cạnh và thường đu lên bờ xe nước những buổi trưa hè nóng cháy, với ký ức lu mờ còn sót lại, chỉ muốn làm một gạch nối giữa công trình của cha ông ngày xưa, và lớp người sinh ra khi bờ xe nước đã thuộc về dĩ vãng.Bờ xe nước hầu hết được thiết lập bằng tre, và được xây dựng bên cạnh bờ sông, dùng sức đẩy của nước để quay tròn những bánh xe. Trên những bánh xe có gắn nhiều ống nước, bánh xe quay múc nước vào ống, và đổ vào hệ thống máng nước, máng nước được nối tiếp vào mương nước để đem đổ vào đồng lúa. Bờ xe nước nào cũng có sự liên kết giữa bánh xe nước, máng nước và hệ thống mương chạy ra đồng ruộng. Vì sự liên kết này nên mỗi năm bờ xe nước được tái lập trên vị trí cũ cũa những năm trước. Nói đến bờ xe nước tức phải nói đến những con sông cưu mang nó. Những con sông có lưu lượng nước lớn, chảy một chiều, nghĩa là nơi có bờ xe nước thì không có nước thủy triều chảy ngược về nguồn. Vì bờ xe nước chỉ quay một chiều. Quảng Ngãi có ba con sông lớn: sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Bồng. Ba con sông này phát nguồn từ rặng Trường Sơn, chảy len lỏi qua làng mạc và cuối cùng đổ vào biển Đông. Ba con sông này trải dài trên chiều dọc Nam Bắc của điạ bàn Quảng Ngãi. Hai bên ven sông là những ngôi làng với những cánh đồng lúa. Và cũng trên ba con sông này người nông dân Quảng Ngãi đã từng thiết lập những bờ xe nước để đem nước vào ruộng đồng. Sông, có khúc bồi có khúc xiết nên có những đoạn bờ sông có bãi cát và có đọan không có bãi cát. Cũng vì vậy mà công trình thiết lập bờ xe trên mỗi khúc sông đều khác nhau. Những bờ xe nằm trên khúc sông có bãi cát thì phần căn bản của bánh xe (như căm và niền bánh xe) được thiết lập trên bãi cát, xong mang treo vào trục quay dưới nước và tiếp tục xây dựng phần còn lại (như ống ước, phên). Ngược lại, những bờ xe nằm trên khúc sông không có bãi cát và nước chảy xiết thì những bánh xe được thiết lập trên bãi cát gần đó xong đưa về gắn trên trục quay dưới nước và tiếp tục phần còn lại.Tùy theo cường độ và lưu lượng của giòng sông mạnh hay nhẹ và nhu cầu nước cung cấp cho cánh đồng, có những bờ xe nước có đến mười bánh, mười hai bánh như những bờ xe nước trên sông Trà Khúc.Những bờ xe nước trên sông Vệ chỉ có bốn bánh, và hầu hết mỗi thôn đều có bờ xe nước cho ruộng đồng của thôn đó.Những bờ xe nước ở Quảng Ngãi đều có cách thiết lập tương tự nhau, nên bài viết này chỉ nói đến chi tiết cách thành lập và điều hành của bờ xe nước Ba Bình, xã Nghĩa Thành (nay là xã Hành Thịnh, huyện Nghiã Hành) trên sông Vệ vào những năm 1963 và 1964.Xã Nghĩa Thành, khúc sông tính từ chân đèo Quán Thơm đến đập Bến Thóc, thôn An Ba, có năm bờ xe nước, một bờ cho mỗi thôn: bờ xe Thuận Hoà cho thôn Thuận Hòa, bờ xe Chán Thuỷ cho thôn An Chỉ, bờ xe Xuân Ðình cho thôn Xuân Đình, bờ xe Ba Bình cho thôn Ba Bình và bờ xe Mỹ Hưng cho thôn Mỹ Hưng. Trên năm bờ xe trên riêng chỉ có bờ xe Chán Thủy đổ về thôn An Chỉ của xã Nghĩa Phước (nay là Hành Phước).Ngòai ra thôn Đồng Xuân (nằm giữa Ba Bình và Mỹ Hưng) không có bờ xe nước thì lại được thay thế bằng nhà máy nước, nhà máy nước ông Trần Công Sơn. Năm bờ xe nầy, trừ bờ xe Chán Thuỷ ra thì tất cả còn lại đều có bãi cát rộng lớn bên cạnh.Ban điều hành của một bờ xe gồm có Trương Cử, một Trùm xe, và 4, 5 người thợ xe. Trương Cử có thể có nhiều người, mỗi người làm chủ một phần của bánh xe, gọi là tên. Có nửa tên xe tức là làm chủ nửa bánh xe. Những Trương Cử là những người bỏ vốn, và công để xây dựng bờ xe. Ðến ngày gặt lúa thì tuỳ theo ruộng sâu hay ruộng cạn, ruộng trên gò hay ruộng dưới trũng, ruộng nằm xa nước xe hay ruộng nằm gần nước xe mà chủ ruộng sẽ đóng lúa cho Trương Cử nhiều hay ít. Những lúa nầy sẽ được chia trả phần vốn cho mỗi Trương Cử trước, xong trả công cho Trùm xe, và thợ xe, cuối cùng lúa còn lại đem chia phần lời cho các Trương Cử.Ngày xưa, những năm 1975(?) trở về trước, ruộng lúa miền Trung mỗi năm chỉ cấy một mùa, và vụ lúa bắt đầu vào cuối tháng Ba âm lịch đến tháng Tám, tháng Chín âm lịch là lúa được gặt về. Lúa chỉ cấy trong mùa khô vì sau tháng Chín tháng Mười là đến mùa mưa, nước lụt sẽ làm hư thối lúa. Cho nên những bờ xe nước chỉ được thiết lập và hoạt động vào giai đoạn đầu của vụ lúa, đến khoảng tháng Chín âm lịch thì lúa đang chín, không cần nước nữa và mùa lũ lụt cũng sắp đến, bờ xe nước sẽ được gỡ ra trước khi nước lũ đổ về. Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch Trùm Xe đến nhà Trương Cử thu tiền để mua tre và vật liệu xây dựng bờ xe, tuỳ theo số tên xe Trương Cử làm chủ, mà thu nhiều hay ít. Trùm Xe lấy tiền đi mua tre. Mấy thợ xe là người đốn tre và mang tre ra bờ sông. Việc đầu tiên là trùm xe và thợ xe sẽ đóng một cái bè bằng tre, rộng lớn dùng để di chuyển trên sông, kế đến họ xây một cái nhà nhỏ trên cát bên cạnh bờ xe gọi là chòi xe. Chòi làm bằng tre, vách và mái lợp bằng rơm. Chòi xe rất kín gió và có luôn cả bếp núc để thợ xe nấu ăn hằng ngày. Sau khi có chỗ ăn ở đàng hoàng, trùm xe và thợ xe sẽ bắt tay vào việc. Trùm xe và thợ xe lên rừng chặt một loại dây to cỡ cổ tay và rất dẽo đem bỏ ra bè chở về để làm bánh xe. Những dây này dùng quấn chung quanh niền bánh xe cho cứng. Nếu không có loại dây này thì thợ xe phải chẻ lạt tre ra đánh thành một dây lớn, dai, thay thế. Trùm xe và thợ xe còn thu của Tương Cử những thứ như: lá mía khô, lá chuối khô dùng để làm bờ độn giữ nước.Trong công đoạn xây dựng bờ xe có rất nhiều việc, và những việc này có thể làm song song với nhau để tranh thủ thời giờ. Vì cuối tháng ba âm lịch là những thửa ruộng khô nức nẻ đã được cuốc ải xong cần nước để bừa. Cho nên chu kỳ bờ xe nước, nhữmg thửa ruộng lúa và thời tiết trong một mùa luá đều ăn khớp vào nhau.Trùm và thợ xe mang bốn trục xe của năm cũ ra dựng trên bãi cát. Kế đến là những thân tre già, lớn sẽ đước trảy nhánh sạch sẽ, cắm vào trục xe làm căm. Trục xe có chiều dài chừng ba thước. Hai đầu trục xe tròn và được niền bằng sắt. Ngoài đầu hai trục được đục nhiều lỗ chen kẽ dùng để cắm căm, hai lớp căm từ hai đầu trục bắt chéo qua nhau. Bề ngang viền bánh xe rộng cỡ một thước và được đánh chung quanh bằng sợi dây dẽo dai mang từ trên rừng về.Trong khi căm và niền xe đã được lắp vào trục trên bãi cát thì thợ xe dùng những thanh tre, lớn cỡ ba ngón tay khép, đang thành những tấm phên. Và những người thợ khác lại lặn xuống đáy sông xúc sỏi đổ thành một lớp mỏng nơi những bánh xe sẽ được dựng lên. Những tấm phên tre sẽ được đóng lên trên lớp sỏi làm thành một cái sàn để giữ cát khỏi bị xoi mòn. Và cũng trong lúc này, thợ xe sẽ chôn những cột trụ trên lớp phên để từ đó bánh xe được gác lên. Bốn bánh xe thì có ít nhất tám cột trụ lớn và những cột trụ nhỏ chôn bên cạnh để chống đỡ cho khỏi bị xiên, ngã.Khi cột trụ xe được chôn chặt dưới cát là cũng đến lúc những bánh xe trên bãi cát được dời xuống nước đặt lên trụ. Giai đoạn này cần có nhiều người dân trong làng giúp để mang bánh xe ráp vào trụ. Một đoàn người như đàn kiến bu bên bánh xe, họ dùng phương pháp đòn bẫy và những dây dừa buộc vào bánh xe kéo dựng dậy và cho lăng từ từ xuống nước, rồi ráp vào trụ xe. Mỗi bánh xe có đường kính cỡ năm thước, to và nặng, vậy mà những con người nhỏ bé đã chinh phục và đặt vào trụ chống đỡ rất ăn khớp. Khi những bánh xe đã được ráp vào trụ chống đỡ và những cây chống chèo được cài lên giữ vững bờ xe, thì thợ xe gắn những tấm phên hai đầu bờ xe, lấy cát tấp lại để chống lại con nước xoáy có ảnh hưởng đến bờ xe.Trong khi trùm và thợ xe ráp bánh xe thì một số người khác lại mang những khúc tre già ra đóng thành một hàng trụ ngang qua con sông. Cách chừng vài thước là cắm một cây trụ xuống cát, một bên chống bằng những khúc tre khác để giữ vững. Hàng trụ này dùng để giữ bờ độn. Bờ độn là một bờ cát như một con đê nằm chắn ngang con sông giữ nước lại. Dọc theo những cây trụ người thợ xe gắn vào những tấm phên bằng tre và độn một lớp lá mía khô, lá chuối khô làm thành một bức tường. Sau đó Trương Cử mang trâu bò xuống giòng sông kéo cát tấp vào bờ độn. Công việc kéo cát gồm có một cái trang bằng gỗ hoặc tre được buộc vào cổ hai con trâu hoặc bò. Trâu và bò kéo cát dưới lòng sông đem tấp lên bờ độn thành một dãy cát cao hơn mặt nước. Bờ độn chặn nước lại, làm tăng sức đẩy để quay tròn bốn bánh xe. Có những bờ xe nước ở khúc sông sâu và nước chảy mạnh, như bờ xe Chán Thủy hay một vài bờ xe trên sông Trà Khúc, thì bờ độn bằng cát không làm được. Những bờ xe này có bờ độn nổi, nghĩa là bờ độn chỉ làm bằng những tấm phên tre chắn ngang sông và không ăn sâu đến đáy sông.Trên bờ độn được trổ hai lỗ cổng gọi là lỗ cổng gió. Lỗ cổng gió dùng để ghe thuyền chạy qua và những khi con nước lớn quá thì lỗ cổng gió được mở ra để điều hoà sức nước khỏi làm vỡ bờ xe. Trên mặt bờ độn thợ xe trồng miá để giữ cát khỏi chuì xuống nước. Những dãy miá này lớn rất lẹ nhưng khi lớn có thể ăn được thì cũng đến lúc bờ xe nước phải gở ra đem cất vì muà xe cũng đã qua.Song song với những người Trương Cử kéo cát bờ độn là những thợ xe lo đóng dàn máng và mang những máng nước từ năm trước đem đặt lên. Máng nước được làm bằng tôn hay đan bằng tre và trét dầu rái lên cho giữ nước và bền. Những máng nước được cất giữ bởi trùm xe và mỗi năm máng tre phải sơn lại một lớp dầu rái. Dàn chống để đặt máng làm bằng tre, trên mặt dàn chống được lót một lớp vĩ tre trước khi đặt máng nước lên.Máng nước được bắt trước mặt bờ xe, chạy dài trên bãi cát, khi vào gần làng hay khu đất cao máng nước sẽ bắt vào mương nước. Và mương nước chạy xuyên qua làng thẳng đến cánh đồng.Trong khi hệ thống máng nước, bờ độn được thiết lập, thì thợ xe sẽ gắn những tấm phên vào bánh xe. Tấm phên đan bằng tre, hình vuông hoặc hình chữ nhật rộng bằng chiều ngang bánh xe. Trên vòng tròn bánh xe, cách khoảng chừng một, hai thước sẽ gắn một tấm phên xe. Dòng nước chảy tống vào phên xe và đẩy bánh xe quay tròn. Kế đến, thợ xe sẽ gắn ống nước vào bánh xe. Ống nước cũng làm bằng tre, dài chừng vài ba lóng tre, những mắt tre được đục thủng xuyên qua, và một đầu ống được giữ kín để chứa nước. Ống nước được gắn vào bánh xe với độ nghiên chừng 15 độ. Khi bánh xe quay xuống nước, ống nước sẽ bị nhận chìm trong nước và nước sẽ chun đầy vào ống, rồi bánh xe quay mang ống nước lên đến đỉnh và bắt đầu quay ngược xuống là nước trong ống đổ ra cái máng nhỏ nằm giữa hai bánh xe. Máng nhỏ này được bắt vào hệ thống máng lớn để đưa vào dàn mương nước. Trong khi gắn phên xe và ống nước vào bánh xe, thợ xe dùng cây gậy thọt ngang qua bánh xe để bánh xe không quay tròn được. Thì ra người ta nói thọt gậy bánh xe là thế!Đến đây, bờ xe coi như hoàn thành và có thể đưa vào hoạt động. Trùm xe, thợ xe và những Trương Cử cùng những người lớn tuổi trong làng làm một buổi lễ nhỏ bên bờ xe gọi là lễ khánh thành và cúng bái thần sông cùng ma da phù hộ bờ xe. Sau đó những cây gậy chắn ngang bánh xe sẽ được rút ra, và những bánh xe bắt đầu quay tròn trên giòng sông. Những ống nước trên thành xe thay phiên nhau hụp lên hụp xuống trong dòng nước và thi nhau đổ lên máng nước. Những dòng nước trắng xoá đuổi nhau chạy trên máng nước, va chạm vào thành máng kêu róc rách. Đến đầu làng máng nước đổ vào mương và những đưá bé trần truồng nằm sẵn dưới mương, đợi chờ. Rồi oài lên những tiếng reo hò của bầy con nít“Ô kià! Con nước đã về.”Từ đây những thửa ruộng khô nức nẻ sẽ được uống những dòng nước trong lành từ giòng sông sau làng. Màu vàng cháy của cánh đồng cũng bắt đầu chuyển thành màu xanh tươi, màu xanh của nhựa sống. Những con chim Chà Chiện con trên luống đất ải cũng đã mọc cánh, đang bay đi. Và thoảng trong tiếng gió, giọng ca của ai: “Dẫu xa muôn trùng tôi vẫn còn thương sao là thương!” (*): Tạp chí BAVH, ấn bản 1926, volumn 2, chương VI, trang 159). Đồng Sa Băng. 24 tháng 7, 2007

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

NHỮNG CHIỀU MƯA BỤI THơ Nguyễn HOang Dương

Posted by thinhanquangngai1 on 22/03/2015

NHỮNG CHIỀU MƯA BỤI

Những chiều mưa bụi bay qua
Dưới hiên mấy khóm hoàng hoa lấm buồn
Một tôi ngồi ngắm mưa suông
Bâng khuâng nhớ nắng vàng buông phương nào

Những chiều mưa bụi bay cao
Vẫy mời lộc biếc trổ chào giêng hai
Em nhìn cánh én liệng bay
Cùng hoa cỏ hẹn ngày mai nắng hồng

Những chiều mưa bụi mênh mông
Ngày xuân nhẹ lướt qua song bóng mờ
Tháng giêng cũng biết ỡm ờ
Buông làn mưa mỏng che hờ sắc hương….

NGUYỄN HOÀNG DƯƠNG

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

EM CÓ VỀ QUA SÔNG CŨ Thơ Nguyễn Hoàng Dương

Posted by thinhanquangngai1 on 19/03/2015

EM CÓ VỀ QUA SÔNG CŨ

Mười lăm năm rồi lận đận
Tôi chưa trở lại Cát Tiên
Nhớ sông Đồng Nai hoang vắng
Quanh năm nước đục xuôi miền…

Nhớ em một thời lưu lạc
Nhớ tôi một thuở phiêu bồng
Gặp nhau dưới trời viễn xứ
Cùng nhau thương một dòng sông..
……

Rồi cũng từ dòng sông ấy
Em đi không hẹn buổi về
Và tôi giang hồ lỡ cuộc
Ngậm ngùi quay lại trời quê

Thế rồi dòng đời muôn ngả
Mỗi người mỗi phận dạt trôi
Cát Tiên còn trong mộng tưởng
Sông xưa lặng chảy bên trời …

Mười lăm năm rồi xa biệt
Chốn xưa em có quay về ?..
Lâu rồi đời tôi yên phận
Quê nhà mưa nắng mù che

Em có về thăm nơi ấy
Thương giùm bóng nắng chiều xa
Lòng tôi bao lần nhung nhớ
Cát Tiên nhuộm ánh dương tà….

Em có về qua sông cũ
Vớt lên đôi cánh lục bình
Coi như thương đời nhau vậy
Vốn cùng một kiếp lênh đênh…

NGUYỄN HOÀNG DƯƠNG

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »