Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 478,864 Lượt

ĐÀ LẠT VỀ RƠI NỖI NHỚ.Nguyễn Đức Phước. Viết về tập thơ “DALAT TÔI” của NGUYỄN TẤN ON

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/06/2018

ĐÀ LẠT VỀ RƠI NỖI NHỚ
(Đọc tập thơ Đà Lạt tôi của Nguyễn Tấn On- NXB Nghệ An năm 2018)
Tôi quen biết Nguyễn Tấn On đã lâu, khi tôi bắt đầu cộng tác cho Tạp chí Áo Trắng (nay do NXB Trẻ và Báo Tuổi trẻ phối hợp ấn hành), thời điểm đó Nguyễn Tấn On đã có nhiều thơ in trên Áo Trắng. Đến nay Nguyễn Tấn On cho ra đời 9 tập thơ. Thơ của Nguyễn Tấn On đa dạng về đề tài, như: viết về lứa tuổi học sinh, sinh viên, về tình yêu, về Đà Lạt nơi anh làm việc hiện nay và quê hương Quảng Ngãi của anh. Nhưng ấn tượng của tôi hơn cả là Nguyễn Tấn On viết về mẹ, đây là đề tài mà trong 8 tập thơ trước của anh đều có với số bài không ít. Với tập thơ thứ chín Đà Lạt tôi, thơ anh vẫn dành cho mẹ:
Mẹ dành cho cái củ khoai
Bẻ đôi con cắn loay hoay nghẹn này
Ra vườn gom lá chiều nay
À ơi sợi khói khói bay thơm làng
(Khói à ơi bay)
Cái nghẹn ngào tình mẹ trong thơ Nguyễn tấn On không chỉ là củ khoai, củ sắn trong những thời kỳ khó khăn gian khổ, mà còn là sợi khói trong mái tranh nghèo của bếp lửa chiều hôm mong mỏi đứa con xa quê trở về, dù đó là mùa xuân hay là những ngày đông buốt giá. Cái tình mẹ ấy không chỉ lúc mẹ còn sống mà vẫn thao thiết khi mẹ không còn nữa:
Tôi lóng cóng chạy giữa chiều gió vấp
Một bó hoa tặng mẹ dẫu muộn màng…
Em quỳ khóc như chưa được khóc
Tôi mủi lòng rưng rức trước mộ bia
(Hoa phụ nữ)
Sự muộn màng của người con hay của nàng dâu trong thơ Nguyễn Tấn On làm cho bao người sực tỉnh. Khi mẹ còn sống chúng ta đã bao lần quên mẹ, đến khi mẹ không còn nữa thì lại bùng nhớ. Dù đó là lời hối lỗi muộn màng, nhưng ở nơi xa xăm nào đó có lẽ người mẹ phần nào được an ủi. Vì đã trải qua những tâm trạng như thế nên trong thơ của Nguyễn Tấn On có điều khác biệt với những nhà thơ khác khi viết về nhạc mẫu của mình, và đây là một trong rất ít những tác giả đã viết được như vậy:
Ngoài kia trời đã vào đông
Còn vạt nắng đẹp hàng thông trước nhà
Dã quỳ bung nụ ra hoa
Mẹ ơi mặc ấm kẻo mà lạnh thân
(Mẹ ơi! Trời đã vào đông)
Lời thơ rất đơn sơ, mộc mạc nhưng Nguyễn tấn On đã nói lên được điều mà nhiều người muốn nói, nhưng rất khó nói, mà nhiều khi không khéo nói ra lại rơi vào sự giả tạo. Nếu lo cho mẹ ruột như thế cũng là bình thường, nhưng với mẹ vợ mà lo như thế thì thế gian này không phải ai cũng làm được. Nhưng để trả lời cho cái tình đó là sự hàm ơn sâu sắc, mà nhờ mẹ đã mang lại cho mình đóa hoa luôn tươi thắm, đong đầy trong ngôi nhà hạnh phúc:
Mẹ ơi đưa tay con cầm
Xin cảm ơn mẹ nỗi trầm luân qua
Mẹ sinh ra một đóa hoa
Con mang về cắm trong nhà ngát hương
(Mẹ ơi!Trời đã vào đông)
Đóa hoa ấy là đóa hoa của mẹ, cũng là hoa của đất trời ban tặng cho Nguyễn Tấn On mà trong Đà Lạt tôi luôn xuất hiện. Với Đà Lạt nếu không mimosa, không hoa dã quỳ, hay không có rừng thông thì đâu còn là Đà Lạt nữa. Dã quỳ là một loài hoa dại mà khi mỗi du khách đặt chân vào Đà lạt thì nhận biết ngay. Cứ mỗi mùa đông khi du khách nhìn thấy những cây thông khi xe qua khỏi đèo Bão Lộc cùng với sự thay đổi không khí từ nóng sang lạnh, cùng với màu vàng rực của hoa dã quỳ ở hai bên đường, thì đó là báo hiệu chúng ta sắp đặt chân đến xứ sở mộng mơ này:
Đà Lạt tôi về
Rơi nỗi nhớ
Hỡi mùa đông dã quỳ rực rỡ…
Ghế ngồi còn ấm bên khung cửa
Và phấn thông bay khắp núi đồi.
(Mùa đông –dã quỳ)
Hỡi mùa đông và cứ mỗi mùa đông tôi thường về Đà Lạt với nhiều kỷ niệm. Và khi về đến miền đất thơ mộng này mà không gặp bạn thơ, không cùng ly rượu thì như thiếu điều gì đó. Mỗi lần gặp nhau, Nguyễn tấn On rất nhiệt tình, cùng ca hát, đọc thơ và uống rượu. Sau nhiều lần gặp gỡ bạn bè từ phương xa đến, Nguyễn Tấn On cùng tâm sự:
Bạn háo hức lên chơi với núi
(Bỗng) Ngỡ ngàng núi có tình nhân
Lủi thủi (đau) ôm đàn nghêu ngao hát
Cõng (nỗi) buồn (bạn) xuống núi lặng thinh
( Bất chợt mưa phía núi)
Với mẹ hiếu nghĩa như thế, với bạn nặng tình như vậy, còn trong tình nhân của Đà Lạt tôi thì ẩn chứa nhiều nỗi niềm:
Đưa tay tôi ôm vết trầy
Từ con tim nhỏ đã gầy nắng mưa
Đưa tay tôi nắm ngày xưa
Cuộc tình năm ấy cũng vừa thôi nôi
(Thôi nôi tình)
Cuộc tình vừa thôi nôi là thế nào nhỉ? Kỷ niệm cuộc tình vừa tròn một năm hay một năm sau cuộc chia ly. Cuộc tình còn nằm trong nôi là cuộc tình gì mà Nguyễn tấn On thổn thức như vậy:
Gọi em khản giọng phố hoa
Đẫm cơn mưa núi ướt Đà Lạt tôi
Tạt vào quán cũ xưa ngồi
Cà phê bỗng nghẹn phía đồi mù mưa.
(Cơn mưa phố núi và tôi)
Những lời lẽ nghẹn ngào bởi sự chia tay mối tình, hóa ra sự thôi nôi ấy là kết thúc một tình yêu rất đẹp và buồn, như: đôi tình nhân dìu nhau đi trong mưa trên phố thị Dran, những ánh nhìn đắm đuối bên hồ Xuân Hương thơ mộng, hay cùng trên chiếc xe thổ mộ đi qua đèo Prenn xuôi về Đơn Dương. Đó cũng là những đêm tắm trăng thơm lừng mùi hương phong lan với những hàng thông cất lên tiếng thì thầm câu hát… Phải chăng đó là mối tình rất đẹp của sơn nữ ở đỉnh Lang Biang đầy huyền thoại, để rồi trong tiếng nghèn nghẹn của ly cà phê trong sự ra đi đầy nuối tiếc:
Biết rằng em đi lấy chồng
Trên cao nguyên lạnh gió lồng lộng bay
Bất ngờ tôi đến nơi này
Gặp hai chiếc bóng của ngày quê xưa
(Nhớ nắng)
Và:
Một nỗi buồn thế kỷ
Thôi mà em về đi
Một cuộc tình hoang phí
Thôi mà em tiếc gì
(Đêm cháy buồn tiễn nhau)
Thôi mà em tiếc gì đó là cách nói thôi, chứ sự chia tay nào chẳng đau đớn, chẳng day dứt. Với 63 bài thơ trong Đà Lạt tôi có khoảng 40 bài viết về Đà Lạt. Với lối viết truyền thống, ngôn từ đơn giản dễ đi vào lòng người. Nguyễn Tấn On đã vẽ lên một Đà Lạt có nhiều hương vị, trong đó đất và người Đà Lạt sinh động trong từng trang thơ. Với dấu ấn của những thâm tình, trong đó tình mẹ được Nguyễn tấn On ưu ái nâng niu hơn cả. Và khiêm tốn khi nói về thơ mình: Nầy thơ tôi đứng mép rìa/Phiêu bồng từ cõi mộ bia bước về…/ Tay ai vò chữ buốt tê/ Tay người gom nắng tràn trề xuân thơm làm cho người viết ngẫm ngợi đến tận cùng của sự tái sinh của thơ. Và tạo nên sự đặc sắc về Đà Lạt tôi trong thơ của Nguyễn Tấn On.
Ngày 05/5/2018. (Đã được Báo VĂN NGHỆ TW Đăng số 21ra ngày 26/5/2018)
Nguyễn Đức Phước

Advertisements

Posted in Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

TÔI ĐẾN SINGAPORE thơ Trần Thoại Nguyên

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/06/2018

TÔI ĐẾN SINGAPORE

Tôi đến Singapore buổi sáng mai nay
Sư tử phương Đông rạng rỡ dưới mặt trời
Sư tử phương Đông phun vòi rồng nước ngọc
Làng chài nghèo xưa bỗng hóa kiếp rồng bay !
Tôi đến Singapore nhớ người bạn cũ
Hơn 60 năm trước từng đến Hòn Ngọc Viễn Đông
“Mong một ngày nào Singapore bằng được Sài Gòn!”
Ôi! Thế gian thần kỳ khắc tên Lý Quang Diệu!
Tôi đến Singapore và tôi đã hiểu
Vì sao một làng chài nghèo đất hẹp thiếu nước uống cho bàng dân
Được tách ra từ Malaysia đói nghèo của thuộc địa Anh
Chỉ nửa thế kỷ qua đã hóa Rồng tuyệt kỷ !
(Thu nhập đầu dân vượt qua cả trăm năm Âu Mỹ.)
Điều tiên quyết đầu tiên mà Thủ tướng Lý Quang Diệu thực thi
Chinh phục lòng dân bằng Thực Tế tức thì
Loại trừ sạch những con người phỉnh lừa tụng ca mùa xuân vô sản!
Mở rộng Tự Do Dân Chủ bắt nhịp cầu cởi mở với thế giới phương Tây
Từ nội lực với chính sách nhân tài không phân biệt chung tay dựng nước
Xây chế độ tam quyền phân lập thật minh bạch rõ ràng
Mở cảng tàu trung chuyển quốc tế nườm nượp thương thuyền sang
Dân biết tự do làm giàu và quốc gia hùng cường vững mạnh
Tôi đến Singapore lang thang ăn mày ánh sáng
Đẹp những chung cư cao tầng đèn lấp lánh tựa trăng sao
Nhà nước lo cho dân cái ăn cái ở cái học cái sống với cánh tay dài vô hạn !
Ôi những tầng đô thị dưới lòng đất sâu rần rần tàu điện ngầm tự động khắp đường ngang lối dọc…
Tôi đến Singapore đứng bưng mặt khóc!
Thương ôi vị thế địa chiến lược kinh tế Đông Nam Á của quê hương tôi !
Đau ôi thiên nhiên ưu đãi rừng vàng biển bạc hai đầu Tổ quốc như hai vựa thóc !
Mà sao! Mà sao đất nước tôi mãi tụt hậu đói nghèo rách nát tả tơi !

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

KHÚC LÃNG DU CHO EM thơ Bùi Minh Vũ

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/06/2018

KHÚC LÃNG DU CHO EM

Một lần dưới vầng trăng thủy tinh
Anh choàng vào cổ em nụ hôn
Ngoài kia xuân rạo rực
Em lớn hơn hôm qua

Một lần ngoài rừng cây thủy tinh

Em lắc vòng bằng bài thơ hương thơm
Lần đầu tiên anh cười
Như thằng điên trong đêm tối

Một lần mưa thủy tinh tràn ngập
Em ngời sáng nguyên âm đôi
Nhập vào phụ âm đời anh
Tia sáng chói

Thời gian thủy tinh, không gian thủy tinh
Em thủy tinh
Nhộn nhịp hơn
Trong suốt như nước.
BÙI MINH VŨ

Posted in Bùi Minh Vũ | Leave a Comment »

CHÙM LỤC BÁT của Lê Kim Thượng

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/06/2018

1. CỐ NHÂN
Thời gian kỷ niệm xanh mơ
Bao mùa mưa nắng hững hờ phôi pha
Hoàng hôn thắp nỗi nhớ nhà
Mắt ai có bóng chiều tà tái tê
Người xa nhớ một miền quê
Phong sương dừng bước… quay về xứ xưa…
***
Bãi phù sa… bến đò đưa…
Đồng khoai đánh luống, ruộng dưa cuốn giồng
Nón nghiêng đổ nắng bên sông
Bay bay áo trắng mênh mông Thu vàng
Đồng xa tiếng Cuốc kêu vang
Thoáng về nỗi nhớ xóm làng xa xưa
Gió lùa hương đất thoảng đưa
Tre gầy rủ lá, bóng dừa mơn man
Cô đơn đường nắng chang chang
Gió bay… bay lá me vàng về đâu
Vườn ai rụng trắng hoa cau
Mướp vàng lối ngõ, phai màu đợi trông…
***
Chiều tàn… nắng tắt bên sông
Chùa xa chuông đổ… lúa đồng hương bay
Cò về ngủ trắng cành cây
Phiêu phiêu đò chở trăng gầy trong sương
Khói thơm… sắn nướng củi vườn
Thềm trăng yên ắng mùi hương bốn bề
Vườn sau tiếng Dế vọng về
Võng đưa… chao mãi câu thề dở dang
Thương người xa xứ dặm ngàn
Hồn tan theo bóng nguyệt tàn trong sương
Đêm huyền thấm đẫm mùi hương
Hoa quê Dủ Dẻ ngát đường trăng suông
Nửa khuya… sóng vỗ buồn buồn
Trăng thanh trắng nõn… trần truồng tắm sông
Hồn trăng rơi chén rượu nồng
Hỏi trăng… người ấy lấy chồng bao năm?…
“ Trăng tròn chỉ có đêm rằm
Tình ta tháng tháng, năm năm vẫn tròn…”

2. SANG ĐÒ
“Buồn trông con nhện giăng tơ…”
Một mình quán vắng, bên bờ sông xưa
Ngồi chờ một chuyến đò đưa
Cho tôi gặp lại… tình vừa xa bay…
***
Em về quê cũ chiều nay
Đồng xanh nhẹ gió, cò bay trắng đồng
Môi em thắm, má em hồng
Mắt em đen biếc, mênh mông xa vời
Chiều nghiêng nắng đổ rơi rơi
Rơi trên tà áo giọt vơi giọt đầy
Gió đùa qua ngọn cỏ may
Áo em bay với hoa bay trang đài
Tóc thề buông xõa chia hai
Nửa ôm ngực nhỏ, nửa cài vai suôn…
Chiều xưa… nắng nhạt qua hồn
Hàng mi khép kín, nụ hôn nồng nàn
Chợt nghe có giọt nắng tan
Trên môi thơm ngát Hoàng Lan hương nồng…
***
Từ người áo cưới qua sông
Hai bờ ngăn cách… buồn cong nhịp cầu
Tàn mơ… ly rượu, miếng trầu
Mỗi người, riêng một khối sầu chứa chan
Thôi đành, dang dở cung đàn
Tình đầu nay đã lỡ làng, truân chuyên
Tội người bạc phận vô duyên
“Bây giờ ván đã đóng thuyền…” còn đâu ?
Thôi thì như nước qua cầu
Năm năm còn một bóng sầu hôm mai
“Một mai ai chớ bỏ ai… ”
Lá trôi dòng nước… tình phai nào ngờ
Tình xưa nghĩa cũ… ơ hờ
Tôi – Em… là chút tình cờ thế thôi !
Nỗi buồn em… nỗi buồn tôi…
Trách chi Trời lại nhân đôi nỗi buồn…
***
Chiều nay chớp biển mưa nguồn
Một mình ngồi với rượu suông, hương thừa
Bao năm… luyến tiếc người xưa
Thương em vẫn đợi… tình chưa sang đò…

3. LỖI HẸN
Tôi về… đốt lửa trong mưa
Tìm trang Tình Sử… ngày xưa yêu người…
***
Em xưa… thuở mới hai mươi
Xuân thì vừa đến cho người ngẩn ngơ
Dáng xa như thực như mơ
Tóc thề trong gió hững hờ buông lơi
Liêu trai mắt biếc in trời
Bờ môi hé mở gọi mời nụ hôn
Tiếng cười rơi nhẹ vào hồn
Pha lê vỡ hạt vô ngôn dịu hiền
Chiều châu thổ… sáng bình nguyên
Nhìn em thơ trẻ hồn nhiên cánh chuồn
Yêu nhau yêu tới ngọn nguồn
Cái vui xẻ nửa… cái buồn chung nhau…
***
“ Ông Tơ ghét bỏ chi nhau
Chưa vui sum họp đã sầu…” riêng ai
Em xa… hoang phế đền đài
Thềm rêu, ngói vỡ, tường phai bụi mờ
Thuyền trôi lạc bến lạc bờ
Bóng chim tăm cá bơ vơ bềnh bồng
Gọi người lạc tiếng chênh chông
Nghe trong đồng vọng hư không vỡ òa
Mưa Ngâu tháng bảy nhạt nhòa
Cầu Ô Thước… dải Ngân Hà tàn phai
“Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim…
Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển bắc, anh tìm biển đông…”
***
Mai người lỗi hẹn về không ?
Buồn lên héo ngọn Sầu Đông… sầu đời…
Bỏ tôi… lạc giữa đất trời
Em đi… vui với cuộc đời tư riêng
Trời cho nợ… chẳng cho duyên…
Sao cho trọn nỗi muộn phiền mình tôi ?…
Nha Trang, tháng 4. 2018
Lê Kim Thượng

“…” Ca dao

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ của Trần Công Thạch

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/06/2018

EM ĐI
Em đi bốn chục năm… xa!
Giã từ chốn cũ, quên tà áo bay.
Áo trắng xưa – em vội rời!
Anh tiếc nuối, khúc nhạc đời vời xa.
Tóc thề trong gió nhạt nhòa,
“Cô thôn” biển nhớ, thắm màu trăm năm.
Em đi sóng bạc thì thầm,
Trắng phau cát giữ vô vàn dấu tay.
Em đi qua tháng năm dài,
Hàng dừa rủ lá, u hoài lẻ loi.
Tím chiều một bóng mệt nhoài,
Tình này gửi gió thay lời yêu em.
Vần thơ đôi nét êm đềm,
Ước sao gặp gỡ – khơi niềm càng thương.

ĐÊM LÝ SƠN
Đêm Lý Sơn nhớ thương về em
Hương tỏi thơm thoang thoảng trong đêm
Sài Gòn! Xa! Nhớ! Em có nhớ?
Ngày lại ngày qua – đêm mãi đêm!

Anh dệt tình ta qua tháng năm
Bao mùa phượng đỏ rụng đầy sân
Tưởng rằng đôi ngã – sầu cô lẻ
Hoài niệm tình xưa đã lỡ làng.

Trăng non soi bóng cùng biển cả
Dù khuyết dù tròn vẫn vấn vương
Tóc xanh đổi trắng – bao dâu bể
Ta vẫn hoài mong khúc trùng phùng.

Đời chẳng ngọt ngào – bao đắng cay
Dù đến với nhau: nắng cuối ngày
Mong mỏi trời quang lâu tắt nắng
Lý Sơn thắm đượm khúc tình say.

19/02/2018
Mồng 04 tháng giêng Nhâm Tuất

TRẦN CÔNG THẠCH

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ của La Hà Thạch Trận

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/06/2018

QUẢNG NGÃI NGƯỜI ƠI!

Gởi về nơi ấy tình xa xứ
Quê ngoại tôi ơi! Nắng cháy lòng
Gió trưa thành phố buồn khô khát
Có phải hè chăng? Phượng trổ bông

Tuổi thơ xanh thắm ngày thơ đó
Đạp xe rong phố ngã tư đường
Quang Trung xuyên suốt ra Trà Khúc
Mà thương chi lắm bóng người dưng.

Áo trắng mình bay vờ e thẹn
Cổng Trần Quốc Tuấn quá nghiêm trang
Vẫn lén nhìn nghiêng qua nón lá
Tìm bóng người ta lẫn trong sân.

Phố Ấn rộn ràng đèn xanh đỏ
Gái quê ngấp nghé lụa phương xa
Vụng về vạt áo màu trong trắng
Chiều phai nhạt nắng lướt xe qua.

Xóm đạo nhà thờ hanh hao gió
Lần qua góc phố bến xe xưa
Cọc cạch ngựa thồ nghiêng lưng chợ
Ngơ ngẩn tình tôi chạm bóng trưa.

Ai đến Thạch Trận thăm rừng Cấm
Núi Hùm đồi đá bóng cheo leo
Mà sao tóc rối vòng quanh áo
Trọc đồi, khát gió nắng dài theo.

Tung tăng tà áo vô thị trấn
Sông Vệ người ơi, lặng lẽ trôi
Tìm trong hương vị tô đặc sản
Mì Quảng nồng cay lưu luyến tôi.

Xin giữ giùm tôi màu sương khói
Trên mái tranh xưa chút ảo huyền
Hoàng hôn chậm xuống mùi hương lúa
Bàu Giang êm ả ướt sương đêm.

Quảng Ngãi người ơi ! Bao nỗi nhớ
Lạc vần thơ cũ bến Tam Thương
Tiếng sông Trà Khúc buồn khô khốc
Tôi chẳng còn ai ! Bóng tịch dương.

THẦY GIÁO TÔI
Nắng Quảng Ngãi tôi về không mũ đội
Trời tháng năm gió núi hạ lào bay.
(Kính viếng Thầy Phan Như Thức)
La Hà Thạch Trận
Câu thơ cũ chợt về cùng ký ức
Thầy giáo tôi năm ấy đã xa rồi
Trời Quảng Ngãi nắng hạ lào ran rát
Chợt ngậm ngùi, sao mằn mặn trên môi.

Trong trí nhớ lời giảng bài vanh vách
Phấn trắng rơi từng câu chữ vang đầy
Lòng xao động mê mang theo lời giảng
Thấm vào hồn vào mạch máu hôm nay.

Cô học trò thích làm thơ viết lách
Nhìn xung quanh đâu cũng thấy trời xanh
Màu nắng đẹp hoa ngọc lan thơm ngát
Và con đường phía trước rạng công danh.

Trải tầm nhìn vào những ngày mới lớn
Lá thu vàng rơi cửa lớp mộng mơ
Thầy dạy Văn cao giọng trên bục gỗ
Cách gieo vần tìm cảm xúc trong thơ.

Thu Quảng Ngãi tôi yêu từ dạo đó
Vệ Giang ơi! Trộn nắng sớm vàng mơ
Làn khói nhẹ vẫn vơ trên mặt nước
Tỏa mùi hương đồng lúa chín vàng khô.

Tạ ơn Thầy, cho trò nhìn cái đẹp
Quê hương mình sỏi đá cũng thành thơ
Trong lũ lụt vặn mình theo con nước
Cõng đói nghèo vẫn nuôi dưỡng tài hoa.

Tạ Quê hương có sông Trà, núi Ấn
Biển Cô Thôn pha gió núi Trường Sơn
Chiều Mỹ Khê hẹn hò ôm sóng vỗ
Cát trắng ngần, lóng ngóng bước chân run.

HƯƠNG TỎI LÝ SƠN

Nơi đảo xa, gió lùa chênh chao nắng
Biển đợi chờ, biển đùa sóng lao xao
Đồi núi cao đá khô hanh lộng gió
Chân víu vào vuông cát trắng tìm nhau.

Dốc quanh co lên cột cờ Tổ quốc
Biển màu xanh bên đồng tỏi màu xanh
Gió đưa qua mặn mòi hương muối biển
Gió đưa về hương tỏi ngát mùi thơm.

Nắng đảo xa mang tình người xứ Quảng
Tỏi Lý Sơn chẳng biết tự bao giờ
Niềm tự hào trong lòng người xa xứ
Niềm tin yêu trong chuỗi nhớ nao nao.

Trời Lý Sơn bình yên chiều vàng nắng
Gió bốn mùa ráng đỏ trãi mầm xanh
Nếu mai đây không còn hương tỏi nữa
Lý Sơn buồn thương nhớ mãi ngàn năm.

Nếu Lý Sơn chỉ một màu xanh biển
Cùng sân golf, nhà nghỉ dưỡng cao tầng
Cánh đồng tỏi mướt xanh thành cổ tích
Đàn em thơ đau đáu bước chân hoang.

La Hà Thạch Trận

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

GIẤC MƠ HỒNG Thơ Bùi Minh Vũ

Posted by admintnqn trên 08/05/2018

GIẤC MƠ HỒNG

Em bẻ gẫy mũi tên thời gian
Thách thức vẻ kiêu sang thánh thần
Bỏ trong lồng ngực
Mặt trời

Mãi mãi được tôn vinh
Như cánh nắng
Tựa vào hương thơm
Giấc mơ hồng nỗi nhớ

Em chia đều ngọt ngào
Linh hồn anh đơn độc
Từ cuối đông
Đến vàng mai trái chín

Rác rến trổ bông cười
Chùm cỏ cây nhảy múa
Khởi đầu quyền năng hướng đến sự thật
Trước khi tình yêu sinh ra.
BÙI MINH VŨ

Posted in Bùi Minh Vũ | Leave a Comment »

MINH ĐẠO VIẾT VỀ TẬP THƠ”ĐÀ LẠT TÔI” CỦA Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 08/05/2018

“ĐÀ LẠT TÔI” NÂNG NIU TRIU MẾN
Báo Lâm Đồng.

Cập nhật lúc 08:28, Thứ Năm, 03/05/2018 (GMT+7)

Nhà thơ Nguyễn Tấn On, quê quán ở tỉnh Quảng Ngãi nhưng đã định cư, lập nghiệp tại thành phố Đà Lạt hơn 30 năm nay. Kể từ năm 2000, anh có tập thơ đầu tay “Thơ tặng người”, cho đến năm 2014, tập thơ thứ 8 được xuất bản. Năm nay, Đà Lạt tròn tuổi 125 hình thành và phát triển, nhà thơ Nguyễn Tấn On tiếp tục cho ra mắt tập thơ thứ 9 “Đà Lạt tôi” và dành trọn vẹn đối tượng thẩm mĩ về đất và người Đà Lạt, Lâm Đồng.

Tập thơ “Đà Lạt tôi” của Nguyễn Tấn On. Ảnh: M.Đ

Đầu đề tập thơ bình dị, chân chất: “Đà Lạt tôi” với 63 tác phẩm mới sáng tác trong khoảng bốn năm nay, nhưng được nhà thơ đằm mình chiêm nghiệm, suốt 30 năm. Dù là thể lục bát (28 bài) hay thơ tự do (35 bài), mạch cảm xúc tập thơ “Đà Lạt tôi” đều biểu đạt bằng những ngôn từ dung dị và đằm thắm.

Mở đầu tác giả Nguyễn Tấn On dụng ý chọn ngay bài thơ “Đà Lạt tôi” – cũng là tên tập thơ như một tấm chân tình mời khách vào “ngôi nhà” thơ anh bằng những hình ảnh gợi mở rất Đà Lạt: Hoa Bồ Công Anh “kiêu sa”, ngàn thông “thì thào”, quán cà phê quen thuộc để ngắm “xe đạp đôi leo dốc” và thả hồn với “hẻm phố nghiêng mưa bụi nghiêng”…Sự nghiệp sáng tác của anh chủ yếu gắn với hai miền quê yêu dấu: Quảng Ngãi và Đà Lạt – Lâm Đồng. Với Đà Lạt, anh hòa vào thiên nhiên, đằm sâu khi neo lại, và da diết nhớ quê lúc tha hương. Rất nhiều hình ảnh, đường nét, gam màu anh chiêm nghiệm và đưa vào thơ, họa nên những bức tranh tinh khiết và đỗi thân thương. Đó là Đà Lạt long lanh mặt đất và thoang thoảng không trung, có “sơn nữ gùi ban mai lên núi”; của hương: hương dậy, hương tỏa, hương thơm lừng, hương thánh thiện…; của mưa: mưa tạt, mưa phùn, mưa đẫm, mưa nghiêng, mưa tình, mưa rớt, mưa giăng, sợi mưa, mưa xanh cỏ; của sương: sương óng lung linh, sương nở trắng, sương mù núi đồi, sương lẫn cùng hoa; của thông reo, thông hát, với mây sà, mây choàng, mây tung tăng. Một Đà Lạt khác nữa có nắng lạnh, nắng choàng sương, nắng chênh chao, nắng vàng sa, nắng lang thang, nắng hồng, nắng lung linh, nắng ươm vàng, và gió rướn, gió long đong… Những không gian ấy được Nguyễn Tấn On họa vào trong những vần thơ qua thời gian ngày – đêm Đà Lạt.

“Đà Lạt tôi” của Nguyễn Tấn On cũng không thể thiếu những con người. Nhà thơ, với tình yêu trong trẻo về một cô gái không định danh hoặc có tên cụ thể, hay với tình thương thẳm sâu cùng những chị, những mẹ lao động vất vả lam lũ từ người nhặt ve chai nhọc nhằn đến mượt mà tà áo dài trên bục giảng… Tôi rất thích bốn câu kết trong bài “Đẩy mưa”. Đó là không gian đêm mùa Xuân cao nguyên, lạnh và mưa, dáng chị lao công lầm lũi, nhẫn nại khép lại đêm làm việc cũng là lúc mở ra một ngày tươi mới:

“Hốt đêm hốt cả cơn mưa
Chuông ngân chạm phố cũng vừa đầy xe
Đêm xuân mòn nhánh chổi tre
Đẩy mưa qua dốc-nắng xòe ban mai”

Hay trong bài “Lượm nắng”, hồn nhà thơ chạm đến đại từ đại bi:

“Tay ai vò chữ buốt tê
Tay người gom nắng tràn về – xuân thơm
Mái nhà chín khói sôi cơm
Bên kia góc nhớ vay rơm rạ vàng
Từ khi phố – phố lấn làng
Bà đi lượm giấy dưới hàng tường xây”.

Chia sớt sự gian lao và giá trị lao động, anh còn xem thiên nhiên là đối tượng của tình yêu thương, trân quý môi trường sống bao nhiêu nhà thơ càng chạnh lòng trắc ẩn trước mất mát vơi đi của cái đẹp. Anh đau cùng nỗi đau với Mẹ Thiên nhiên mỗi khi ai đó vứt chai nước thừa xuống hồ anh cảm mặt hồ gương phải “cau mày”, ai đó thả rác xuống đường, anh xót “Như ném đá vào tôi” của người làm thơ đa đoan.

Và con người trong thơ Nguyễn Tấn On còn là người thân, gần gũi nhất. Bài thơ “Hoa phụ nữ” rất xúc động và tôn vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam. Bài thơ như sám hối của kẻ dại khờ mà chân thật. Đó là câu chuyện tặng hoa nhân ngày lễ trọng của nữ giới, với cách kể khéo léo và bất ngờ, đáng yêu và lay động. Bắt đầu là sự vụng về “lăng xăng” của anh đi tìm hoa tặng vợ, người vợ cảm ơn và “ngập ngừng” đề xuất anh mua tặng hoa người mẹ của anh… đã quá cố. Trước trạng huống bất ngờ, anh “long cóng chạy giữa chiều gió vấp” để tìm một bó hoa bước ra nghĩa trang. Và:

“Em quỳ khóc như chưa được khóc
Tôi mủi lòng rưng rức trước mộ bia
Phía triền phố một vừng trăng vừa mọc
Một đóa hoa trên mộ mẹ đầu tiên”.

Khát khao theo đuổi, mong mỏi cái đẹp đã trở thành thường trực ở nhà thơ Nguyễn Tấn On. Rất nhiều câu thơ đẹp, hình ảnh tinh tế được cảm nhận, chắt chiu đưa vào tác phẩm để sẻ chia. Bốn câu thơ đầu trong bài “Ngày rừng” là một ví dụ:

“Ngồi nghe nắng trộn giữa chiều
Vạt mây lửng thửng phong rêu chốn này
Ngọn đồi gió lặn vòm cây
Rừng xanh hoang triết căng đầy tự do”

Hay:

“Tình xưa về trú mái hiên
Gió long đong núi cong miền cỏ hoa
Cơn mưa phố núi la đà
Lạc vài chiếc lá nghiêng tà huy bay”
(Cơn mưa phố núi và tôi)

“Bên kia đồi có đàn Dê lầm lũi
Nhai bóng chiều – đợi tắm nắng ban mai”
(Bài thơ cuối năm gửi người xa xứ)

“Em đi lễ về đôi tà áo mỏng
Khăn choàng vai núi, núi tỏa mù sương
Nụ cười thơm hương nhẹ hơn tiếng lá
Rớt xuống không mua – Đà Lạt không thu”
(Đà Lạt không thu)

“Gom chút vàng lay, bay tha thướt
Về tặng em-phố cuối dốc Nhà Làng
Gùi cả màu thu không nói được
Gió phiêu mây ru vạt nắng lang thang”
(Màu thu trên đỉnh núi Bà)

Đà Lạt trong thơ Nguyễn Tấn On thấm đẫm tình thương trìu mến bởi “Thành phố của tôi như thành phố của người”. Đà Lạt ấy len nhè nhẹ, lằng lặng vào cõi mơ, lọc qua hồn tình của nhân vật thẩm mĩ giao hòa mĩ cảm. Nguyễn Tấn On nương theo từng nhịp thở của Đà Lạt, tinh tế với từng satna thời gian, mẫn cảm với từng bước sóng không gian. Trong thơ anh khá nhiều hình ảnh mềm mại, mảnh mai và khiêm cung. Thông qua cách dụng ngôn ngữ, anh đạt được điều này. Đó là chiều “nghiêng”, “buông chầm chậm”, “ngẩn ngơ”; là mưa trưa “phiêu bồng”; nắng “so le”, nắng “mong manh vỡ”; hoa “tim tím”; hương “lành lạnh”; sương “bềnh bồng”. Đó còn là “cong cong giữa mùa quang gánh”, “lạnh buông”, “rơi nỗi nhớ”, phố “trong veo”, dốc “hiền hòa”, “quanh co”… Nhưng tuyệt nhiên không là cõi vô định, vô hình. Đà Lạt của Nguyễn Tấn On hiện hữu những gam màu tươi tắn, lấp lánh từ nhiều cung bậc. Thành công đó nhờ kết tinh bằng một cuộc sống đong đầy tình yêu thương. Trìu mến và trân quý lắm, một Đà Lạt, một hồn thơ!

MINH ĐẠỌ

Posted in Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

CHÙM THƠ CỦA La Hà Thạch Trận

Posted by admintnqn trên 08/05/2018

MÙA DON VẮNG

Mưa bỗng ngập ngừng, chiều nay đổ gió
Cả bầu trời giọt vỡ chuyển hoàng hôn
Bằng lăng tím nhuộm màu con đường trắng
Nhớ vô ngần – mùa don vắng buồn loang.

Mưa bỗng nghẹn ngào, vạt sầu mây xám
Chồn chân tôi, tiếng thở hạt mưa rơi
Không khóc được lạnh lòng theo cơn lốc
Bao la sương màu trắng giữa dòng trôi.

Bỏ lại sau lưng một đời đồng nát
Vạn nỗi buồn, tôi giữ lại cô đơn
Sống chật hẹp, lẻ loi và ngơ ngác
Mơ trở về đất Quảng chạm trời thương.

Mưa bỗng rưng rưng bàn chân lấp vấp
Chuỗi nhớ ríu lòng, tình cũ xa xôi
Trượt bước chân xưa, mỏi mòn đêm cạn
Anh đi rồi, ngày tắt nắng đơn côi.

Anh đi rồi ! Mưa bỗng trào rưng rức
Cớ sao buồn khi gió rít qua sông
Quảng Ngãi ơi! Bao giờ về phố nhỏ
Ghé hàng ram, tô don nóng – hoài mong.

GIỮ VẸN HƯƠNG THƠM

Mình lại thẫn thờ, nhớ ai dài thế !
Nắng vu vơ cứ ngỡ nắng vàng rơi
Dăm ba phút gió lướt qua kẽ lá
Tưởng lá giúp mình tìm bóng – Ai ơi !

Rồi mình nhủ đừng chờ ai nữa nhé !
Bụi thời gian là quả đắng đơn phương
Trên dòng nước Trà giang ngày xưa đó
Sóng xô dồn, tim vỡ, mắt rưng rưng.

Mình ảo tưởng vần thơ ai da diết
Cho riêng mình và cho cả ai kia
Mình học thuộc thơ văn từ dạo ấy
Với chiều vàng lãng đãng ánh trăng khuya.

Ai bỗng trở về lối xưa vườn vắng
Áo trắng mình ngây dại vạt mong manh
Thả gió bay qua khung trời phượng đỏ
Chợt nghẹn ngào, thương quá tóc hoa râm.

Mình chẳng biết – Sao nhớ ai dài thế !
Cả cuộc đời là quán trọ chờ mong
Mùi bồ kết ngày xưa ai vẫn thích
Đến bây giờ mình giữ vẹn hương thơm.

BÀN TAY MẸ

Bàn tay Mẹ nắm chặt
Sợ xa con trên đời
Chút nắng rơi cửa sổ
Chiều qua chiều buông rơi.

Mẹ gọi con khe khẽ
Trên giường bịnh đớn đau
Thời gian ơi ! Đứng lại
Lá vàng rơi đêm thâu.

Bàn tay con nhỏ bé
Nắm tay Mẹ đến trường
Cô giáo làng lặng lẽ
Trong nỗi buồn cô đơn.

Mẹ ngóng chờ năm tháng
Người đi xa rất xa
Các con thơ đi vắng
Còn đây ánh trăng tà.

Mẹ một đời gắn bó
Gieo tri thức trẻ thơ
Vượt qua bao dốc đổ
Vượt qua bao đói nghèo.

Bây giờ Mẹ bên con
Bàn tay gầy héo hon
Đôi mắt buồn xa vắng
Vẫn vỗ về yêu thương.

La Hà Thạch Trận

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ CỦA Trần Công Thạch

Posted by admintnqn trên 08/05/2018

VỀ LÀNG GÒ NGHÊNH BA ĐIỀN

Gò Nghênh có suối nước Tuôl
Có nàng sơn nữ Pháy Nhôl ngoan hiền
Làng Nghênh nam giới như tiên
Rượu cần giải muộn – vợ hiền đảm đang
Minh Long ba núi ngút ngàn
Bóng chiều ngả bóng, lưng mang cũi, gùi
Núi cao, bản thấp, mến gùi
Quên câu thế sự, vui đời rẫy nương
Tuổi đời bóng xế – còn vương
Thê nhi chưa vẹn – muộn phiền lê thê
Đời người chưa chín nồi kê
Mơ câu “Từ Thức”, đường về mây tuông

THAM QUAN THỊ TRẤN BA TƠ

Đợi chờ, ta ngoạn cảnh Ba Tơ
Không xe nên cuốc bộ ba giờ
Ô kìa! Cục Thuế nằm duyên dáng
Quốc lộ bùn ời! Chợ hững hờ!!
Công viên trầm lặng, cùng soi bóng
Lịch sử bảo tàng, dáng kiêu sa
Chiến tích cha ông còn lưu lại
Lâm trường, công sở, dáng Ba Tơ
Trên kìa! Ghềnh thác dòng sông bạc
Chuyển tải tình ta, nhập bến mơ

MÂY LANG THANG

Người về chốn ấy xa xôi quá
Cuốn hút dòng đời, có nhớ ta?
Tình ta không như dòng sông lặng
Khó rẽ đôi dòng, đứng ngã ba

Tình ta như vầng mây đơn lẻ
Nay ở đầu non, mai cuối trời
San sẻ tình ta, đi khắp lối
Bay khắp cùng trời, vẫn đơn côi
TRẦN CÔNG THẠCH

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ CỦA Lê Thanh Hùng

Posted by admintnqn trên 08/05/2018

VỀ NƠI GIẤU TUỔI CỦA MÌNH

Em chở cá qua cầu Hòa Phú
Dốc cầu cong trên bến đò xưa
Dòng sông Lũy đục dòng, tràn lũ
Lợn cợn chiều, đâu tiếng đò đưa?
*
Anh về quê, mà như khách lạ
Lạc nhà em, luẩn quẩn tìm đâu?
Nghe xao xác, bến chiều, chợ cá
Con nước rong, chảy xiết qua cầu
*
Hàng phi lao, giật mình đau đáu
Bao nhiêu năm vẫn cứ rì rào
Chỉ có hàng dừa xuôi tàu, già lão
Cũng như anh, khắc khoải, hanh hao
*
Chợ tan, không kịp vén tóc xòa
Em ơi! Mình đâu còn trẻ nữa
Gió nam non, thổi từ phía cửa
Dưới chân cầu, trôi nổi phù hoa …

                                     XA NHAU RỒI EM SẼ QUÊN

Xa anh rồi, tóc có bồng bềnh
Quấn cong rối giữa lòng phố hẹp
Như chưa hề chút gì gượng ép
Gió cuốn, tan chiều trong lãng quên
*
Lối nhỏ quanh co, em một mình
Giờ tan tầm có ai đưa đón
Cánh hoa dại bên đường nép gọn
Khẽ khàng rung, góc khuất lặng thinh
*
Em xa anh, trời đổ cơn giông
Nhớ che chắn, hiên thưa phía bắc
Đừng lo nghĩ những điều vụn vặt
Việc nắng mưa, cố làm cho xong …
*
Mỗi chiều, đừng ngoái lại, ủ ê
Cứ tươi trẻ, đêm dài lắm mộng
Này cửa sổ, khép hờ, đừng đóng
Con Mướp rong chơi có lối về
*
Xa nhau rồi, em cũng sẽ quên
Nhưng mỗi tối nhớ đừng lên mạng
Để tin nhắn chìm trong lơ đãng
Mờ cong, không gian số bồng bềnh …
Lê Thanh Hùng

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ CỦA Trần thoại Nguyên

Posted by admintnqn trên 08/05/2018

TRỜI THÁNG NĂM

Trời tháng năm tôi về thăm hạ cũ
Bóng phượng gầy lửa cháy rụi hoa niên
Con tu huýt thổi chiều xưa trong gió
Lũ trẻ trâu giờ phiêu lãng bao miền.

Trời tháng năm tôi về thăm hạ cũ
Cánh đồng buồn nằm xơ xác tuổi thơ
Dòng Sông Vệ cạn khô trăng huyết dụ
Tôi vốc cát tung…bay trắng giấc mơ !

Trời tháng năm tôi về thăm hạ cũ
trên cánh đồng đánh giặc với thời gian
Hồn hoa bướm tan lìa rơi vạn độ
xuống muôn trùng cùng sương khói mang mang.

Trời tháng năm tôi về thăm hạ cũ
Tuổi thần tiên không trở lại bao giờ!
Vườn con gái chỉ còn hoa mắc cở
Tôi cúi đầu hôn ngọn cỏ thiên thu.

ĐÊM UỐNG RƯỢU Ở CỐ QUẬN

Đêm uống rượu chia tay nơi Cố Quận
Uyên Hà ơi và Đà Nẵng yêu ơi !
Thơ mỏng mảnh cùng nổi trôi thân phận
Chén rượu suông ngó đất mẹ ngậm ngùi!

Đếm tóc bạc thương ta thời đã hết
Lời biên cương còn hoài vọng trong hồn
Em yêu hỡi! Mùa thu xưa gục chết
Trên ngọn đồi máu đỏ giữa hoàng hôn!

Nâng chén rượu buồn xuyên hai thế kỷ
Tuổi trẻ qua đi! Sầu tóc bạc lưu đày.
Đêm Cố Quận chia tay như mộng mị
Gió Sông Hàn thổi buốt một hồn say !

Đà Nẵng,đêm 04 / 4 /2018
TRẦN THOẠI NGUYÊN

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ LỤC BÁT Của Lê Kim Thượng

Posted by thinhanquangngai1 trên 10/04/2018

1. TAN TRƯỜNG

Một thời chợt nắng, chợt mưa…
Một thời hoa mộng… tình vừa tơ vương…

***

Chiều xưa… áo trắng tan trường
Tiếng ve mùa phượng bên đường ru êm
Em đi gió thổi tóc mềm
Nắng chiều đổ xuống đôi rèm mi cong
Tóc em hương nhớ thơm nồng
Xôn xao vạt nắng cho hồng môi xinh
Hoa rơi, rơi mắt đa tình
Cho em mắt biếc in hình trời mây
Em đi, đường gió áo bay
Cho mưa bụi trắng vương đầy áo anh
Cho em, thơ mộng ngày xanh
Che nghiêng nón lá, che vành môi thương
Trải lòng theo nắng vấn vương
Bóng anh nghiêng ngả… theo đường em đi
“Yêu nhau… yêu cả đường đi…”
Đường thơm… hay tuổi xuân thì tỏa hương?
Con đường tình sử mù sương
Anh đi mê mãi lạc đường… mưa tuôn…

***

“Trách ai đem lửa đốt nguồn…”
Tình đầu nào cũng điệu buồn như nhau
Ngàn xưa, cho đến ngàn sau
Mấy ai giữ được tình đầu rụng rơi…
Một thời yêu… chết một thời…
Em quên tình cũ, thảnh thơi theo chồng
“Để cho con sáo sổ lồng…”
Bay qua ngày nắng, bay vòng đêm mưa
Mưa rưng rưng… chuyến đò đưa
Mưa rơi… từ mắt người xưa chung tình…

2. HUYỀN SỬ

Một thời… Huyền Sử tình yêu
Một thời… quấn quít sớm chiều đôi ta…

***

Ngắt cho em cọng Cỏ Gà
Bàn tay đọng giọt nắng tà bâng quơ
Bãi chiều cỏ biếc như mơ
Mắt đen lay láy, ngây thơ yêu người
Môi hôn… rớt giữa nụ cười
Bờ môi nồng ấm… hồng tươi hương Lài
Tóc dài phủ kín bờ vai
Nắng qua kẻ lá nghiêng hai bóng gầy
Áo dài gió cuốn bay bay
Nửa tà lụa trắng… nửa mây bềnh bồng
Như say chén rượu thơm nồng
Tay em mười ngón Xuân hồng đùa vui
Ru em… em ngủ ngon muồi
Ru em… em ngủ say vùi mộng mơ
Hôn lên đôi má non tơ
Hương đồng cỏ nội… tình thơ ngọt ngào
Vườn ai Dâm Bụt ngạt ngào
Vàng tươi hoa Mướp bay vào thiên thai
“Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm… sắt mài nên kim…”
Tôi – Em… hai đứa lặng im
Lắng nghe dậy tiếng nghìn chim trên đồi…

***

“ Ví dầu tình bậu muốn thôi…”
Để Diêu Bông úa… thì thôi… thôi thì…
Tiễn em… từ tạ ra đi
Tiễn tôi… chén rượu chia ly ngàn trùng
Dõi theo từng bước hài nhung
Nghe khua trong gió những cung điệu sầu
Quê người xứ lạ về đâu?
Để buồn dòng nước qua cầu trôi trôi
Yêu em… trót đã lỡ rồi
Những ngày nghiệt ngã, đắng môi lừng khừng
Chim kêu vượn hú chiều rừng
Mây chìm khói lạnh, rưng rưng âm thừa
Hiu hiu… gió thổi ngọn dừa
Mưa chiều Tháng Chín… chiều mưa, chín chiều…

***

Một thời… Huyền Sử tình yêu…
Một thời… quấn quít sớm chiều đôi ta…

Nha Trang, tháng 03. 2018
Lê Kim Thượng

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ Của Ngã Du Tử

Posted by thinhanquangngai1 trên 10/04/2018

VỚI DÒNG SÔNG CŨ

Ngày trở lại thăm dòng sông dĩ vãng
ánh trăng xưa không còn nữa bao giờ
đành ôn lại tháng năm tình xa ngái
có em tôi mỗi tối ngóng trông chờ
Chỉ mây gió với dòng sông bát ngát
mà cơ hồ như thần thoại lên ngôi
và bỗng nhớ vầng trăng ngày tha thiết
có bóng em dung dẻ phía bên trời
Như định mệnh cắt ngang dòng sông cũ
lời tình xưa tắt nhịp thuở vừa yêu
và quá khứ như dòng sông để nhớ
mắt trần gian còn đọng bóng yêu kiều
Và em ạ mỗi lằn ranh quá khứ
cũng băn khoăn dẫu xa cách nghìn trùng
ngày trở lại tim chợt vàng thao thức
kỷ niệm xưa còn ngan ngát hương rừng

NGÀY ĐAN MẮT LƯỚI

Đêm mắt lạnh ta gọi người rất thực
Dấu hài nhi quên sao giấc mộng lành
Nổi niềm ấy giữa ngày đan mắt lưới
Nắng vừa thơm sao lá chẳng ươm cành

Mùa hạ chín em có còn thổn thức
Để thu sang quạnh lắm một trăng rằm
Đêm bật dậy làn mi vừa thiêm thiếp
Mê ly nào cafe với đường quen

Sao nhớ quá buổi tao phùng thuở nọ
Mùa trăng vui thành phố cũng hẹn hò
Em biền biệt bao kỳ vui lặng lẽ
Thương tôi giờ ăm ắp nổi niềm thơ

Em trốn kiếm giữa Sài Gòn đô hội
Ai bâng khuâng mùa nhớ có đong đầy
Vui em nhé. Dẫu chồn chân phía ấy
Màu hân hoan con mắt gọi tên người

NGÃ DU TỬ

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

Ngã Du Tử viết NGUYỄN CHÂU VỚI DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY

Posted by thinhanquangngai1 trên 10/04/2018

NGUYỄN CHÂU VỚI DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY
Ngã Du Tử
Cuối năm Đinh Dậu, tôi được anh Nguyễn Châu tặng tập truyện ngắn DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY. Bạn văn chơi với nhau ai có tác phẩm ra đời là cùng chia vui với nhau, bởi tất cả công sức và trí lực đầu tư vào đứa con mình mong đợi từ viết, biên tập đến xin giấy phép và in ấn.Nhưng duyên phận mỗi tác phẩm được định đoạt bởi độc giả chứ không phải người sinh ra nó, với người viết chân thành sẽ cố gắng hết mình, hầu mong được nó khôi ngô và được đón nhận, ấy là quý hóa rồi.
Nhà văn Nguyễn Châu cũng vậy, anh đã viết khá lâu từ những thập niên trước, tuy nhiên anh thầm lặng và từ tốn nên không ồn ào trong giới văn ngày nay.
Ai trong thế hệ anh, cũng bị ảnh hưởng của cuộc chiến dai dẳng có thể nói dài nhất trong nửa cuối thế kỷ 20 của một quốc gia Đông Nam Á. Vì vậy ký ức một thời được anh trân trọng lưu giữ và chậm rãi viết lại.
DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY với 64 truyện ngắn như thước phim đời anh đã chứng nghiệm, từ Cái đồng hồ, Nghèo, Người cha đến Trơ đáy, Chứng nghiệm chủ đề chính là Dòng sông trơ đáy, và cuối cùng là “Khung trời không bình yên” mỗi chuyện có cách diễn đạt khác nhau và cảm thụ là của bạn đọc.
Sách in đẹp, tao nhã do Quán Văn thực hiện, bìa của họa sĩ Đinh Cường, trình bày là nhà văn Nguyên Minh khá chuyên nghiệp, do NXB Hội nhà văn cấp phép in ấn, vì vậy cảm nhận của tôi tương đối bắt mắt.
Phải nói anh viết khá chấm phá, có thể làm cho người đọc nhiều thắc mắc, hầu như cái kết làm cho độc giả sẽ ngỡ ngàng, có lẽ anh muốn độc giả tiếp diễn chiều suy nghĩ của anh chăng? Để tự mình tìm thấy, đây cũng là lối trân trọng trao quyền cho độc giả, để giải quyết vấn đề mà tác giả còn bỏ lững,
Truyện NGHÈO, nói về bức tranh nơi quê nhà anh, Ông Mười Tâm là một điển hình của dòng suy nghĩ của anh với bức tranh quê thời ấy:” Ông Mười Tâm là học trò của ông nội tôi, Nho học thời vứt bút lông giắt bút chì. Ông đi lính khố đỏ, ngang lưng có thắt đai đỏ phía trong áo, Tây đã đem ông qua chiến đấu với quân Đức hồi Đệ Nhị thế chiến, ông bị trả về làm thương phế binh. Pháp cấp tiền hưu, thoát nghèo” …
Rồi lại tiếp:” Nghèo quá không có đất cắm dùi, phải làm thuê. Quê nghèo chẳng có ai thuê, đành đi mót, Mùa nào mót nấy cũng chỉ lúa sót, khoai sắn qua ngày. Hết mùa gặt chưa cày bừa cho vụ tới, những gốc rạ cọc còi đẻ lúa rài, lại đi mót “lúa rài” (Truyện NGHÈO)
Truyện “Một thời ngông nghênh” là bức tranh thời miền Nam Việt Nam của các chàng trí thức hiện sinh với các triết thuyết của Heidegger, Nietzche, J.P. Sartre, Albert Camus… hay tác giả Việt Nam như Nguyễn văn Trung, Nguyên Sa hoặc Phạm Công Thiện vv… được phản ảnh một góc nhìn qua ký ức của anh với phong trào Hippy ở thập niên 1970 của Sài Gòn khá đa sắc diện: ví như “Hắn ngấu nghiến từ “văn chương siêu hình học” của Nguyễn Văn Trung, “Nhận định đại cương triết học hiện hữu” của Nguyên Sa, “Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh của J.P. Sartre”…
Cái kết cũng làm cho độc giả khá bất ngờ, như “Một ngày, chính quyền bố ráp, đẩy bọn hắn ra chiến trường. Những trận chiến ác liệt, đạn bay súng nổ không làm hắn say máu như nghe nhạc Beatles, Jackson Five. Hắn lơ mơ theo ” imenoctan”
” Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt buồn vui cùng gái điếm
Vung tiền mua vội một ngày vui ( Thơ Bắc Sơn)
và chấm hết truyện.
Độc giả nếu đọc hết chuyện ấy, lại phải suy nghĩ, vì sao lại tức thế nầy? Không lẽ tác giả dựng nhân vật “Hắn” mang cái mác trí thức, khá lịch lãm, cặp bồ với Như Mai trường Marie Curie bề thế một thời lại thế sao, chỉ “phá phách, sớt chia vui buồn cùng gái điếm bằng cách vung tiền mua vội một ngày vui”?
Còn truyện “Tình yêu” thì sao? Tình yêu là bất biến, ai trên trần gian nầy không yêu, nhưng cách yêu mỗi người, mỗi thời một khác, anh viết truyện nầy như một tản văn, lan man trong suy tư tình yêu của mỗi thời, nhất là thời nầy các cô gái lấy chồng xa xứ, tuy sướng khổ có khác nhau nhưng có nổi niềm rất chung “Chồng gần không lấy, lấy chồng xa/ Lỡ một mai cha yếu mẹ già/ chén cơm ai đỡ, chén trà ai bưng”.
“Không có linh hồn” Tại sao vậy? dấu hỏi của tác giả và cũng như dấu hỏi của cuộc đời, lẽ nào như thế. Anh nêu ra như một nhận định của riêng anh, còn giải quyết vấn đề không phải là chuyện nhà văn mà là của độc giả và xã hội ,
Cõi thế gian nầy con người và các loài hữu tình đều có linh hồn, tại sao lại không, ấy là lẽ gì? Thế mà Nguyễn Chậu viết truyện “Không có linh hồn”, chức năng trách nhiệm của nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, viết phim… có quyền nêu ra hay đặt vấn đề, phải không các bạn? còn giải quyết ư? không phải của chúng tôi, các cây bút viết đều như thế.
Thời đại nầy có quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết, với tư cách một người cầm bút có trách nhiệm như vậy tôi nghĩ cũng đủ rồi, còn mọi giải pháp nếu được lắng nghe và có phương pháp, thì may ra xã hội mới tiến bộ bằng không thì thôi.
Truyện “Giáo Ba” thì thế nào?
Ông giáo trong bối cảnh đất nước mới thống nhất, ai ở cái thời ấy cũng hiểu vô vàn khó khăn, đói khổ, Nếu như thế rất dễ giải quyết, nhưng thân phận người thời ấy còn lắm nổi éo le, và thao thức một thời như vẫn dai dẳng trong tiềm thức.
Giáo Ba thiếu tình cha (nếu không nói không có cha), mẹ nổ lực nuôi anh khôn lớn làm ông giáo, đùng một cái cha anh tập kết về, mẹ thúc giục cha tìm con đưa về quê Quảng Ngãi, nếu Giáo Ba chỉ gục đầu mọi chuyện có thể đổi khác bởi cha anh lúc bấy giờ làm quan to, nhưng anh quyết định “không về”. Tại sao?
Đọc hết câu chuyện nhà văn chấm phá bức tranh thủy mặc văn chương ấy, nhiều suy nghĩ cho thước phim quá khứ, lòng lại hỏi như thế là thế nào? nhiều câu trả lời từng thứ cấp cứ nhảy múa tung tăng trong tâm người đọc, rồi dại, rồi khôn, rồi không thức thời v.v… chỉ có Giáo Ba mới biết mình sẽ làm gì và quyết định ra sao.
Tình yêu vô biên trong trái tim Giáo Ba mách bảo anh, cuối cùng anh chỉ đi theo con tim mặc cho định mệnh trái ngang, tất thảy đều chấp nhận, chính điều ấy nói lên được nhân sinh quan của đấng nam nhi.
Tôi đọc truyện nầy rất đồng tình với anh, cuộc sống quá nhiều điều không lường trước nhưng hãy sống hết mình với lòng chân thành, chính danh rồi đời ra sao hãy hay.
Người đọc lại sẽ thắc mắc và rồi phải suy gẫm.
Nếu như tuyện “Trơ đáy” là một khúc sông đời khá cảm xúc với thực tại của Long và Phượng bị chia cắt bởi lằn ranh ngoằn ngoèo định mệnh, linh cảm báo trước của thuở ấu thơ như những lát cắt từ thơ ấu đến khi quay quắt gặp lại nhau giữa Sài Gòn đến ngỡ ngàng vì duyên phận của nó với sự có mặt của người khách lạ đồng hương (Ông Khanh) tìm đến nhà ông Khởi, Hãy nghe anh viết đoạn kết “Sự vồn vã ban đầu đã nhường chỗ cho e dè, cảnh giác. Phượng đã quên hẳn kỷ niệm thời thơ dại, những ngày hồn nhiên tung tăng đến trường, đường làng rợp bóng tre dịu mát, những đêm trăng…
Nét kẻ ngoằn ngoằn ngoèo trên sân ngày nào đã thực sự là ranh giới nghiệt ngã trong tâm hồn của Phượng với Long “mã tà”.
DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY là chủ đề trong tác phẩm, nếu đọc truyện trên chúng ta không thấy dòng sông nào, vậy tại sao tác giả dùng hình ảnh dòng sông? Ồ, thì ra dòng sông đời của ông giáo Ba Dzan, dòng sông đời người cũng dữ dội như dòng sông của tự nhiên, lúc cuồng nộ, lúc tha thiết, lúc êm đềm rất hiền hòa, Thế nhưng với ông giáo Ba Dzan thì đúng là “trơ đáy”, không còn “giọt nước” hồi sinh nào để cứu vãn sự sống nữa bèn hóa thân vào một phu chở củi nơi xứ người may ra thoải mái hơn, trong thân xác gầy còm bởi cả một đời đứng trên bục giảng và cặm cụi viết sách giáo khoa toán, ấy là giải pháp cuối cùng để tồn tại với trần gian đa gian nan nầy, nhất là buổi giao thời của thống nhất đất nước.Tôi đọc mà nghe nghẹn từng khúc thanh quản. Ôi chao! Dòng sông đời ấy có ai hiểu thấu nổi lòng!
Đan xen giữa nhà văn và thầy Ba Dzan có những hoàn cảnh éo le đến độ không thể lý giải nổi hiện thực, chỉ có thực chứng mới hiểu sự tự tồn của đời người!,
Hãy lắng lòng đọc lại một hoàn cảnh của tác giả:”Trước tết, sạp cho thuê sách của tôi bị đoàn kiểm tra liên ngành huyện phong tỏa, Toàn bộ sách bị tịch thu, tôi suýt bị truy tố về tội lưu hành và tàng trử văn hóa đồi trụy.
Vợ tôi gào khóc thảm thiết:”- Hởi các ông Victor Hugo, Gogol, Guy de Maupassant, Tolstoy, Thạch Lam, Tô Hoài, Khái Hưng, ông Phật, ông Chúa… viết sách “văn hóa đồi trụy” làm gì cho nhà tôi hết vốn.”
Và như thế đó… Không còn cách nào khác là rời nơi chôn nhau cắt rốn, để đi đến một nơi xa hy vọng sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, dù biết rằng gian nan.
Gấp tập sách lại, nghiền ngẫm, thẩm định vì lẽ gì, thế nào? trong tôi chợt thấy rằng thì ra còn truyện “Thẩm định” nữa trong tập văn anh, “Thời nào thì cũng như nhau/ nổi buồn ly biệt nổi đau dối lừa”(Trần Nhuận Minh) bèn quay về với chính mình và thở than cùng đất trời.
Ta hãy đọc lại đoạn nầy các bạn nhé:
“Ông chỉ thở than với bà; Tâm lý xã hội bây giờ khó hiểu quá, họ hay đặt ngược vấn đề:Thấu tình đạt lý thay vì thấu lý đạt tình. Sự nghịch lý đầy rẫy trong xã hội làm lòng người điên đảo. Không thể phán đoán tâm lý xã hội theo logic cội nguồn, truyền thống đạo đức Á Đông”
Rồi như mách bảo con tim, tôi cũng như anh và những người thao thức hãy cứ trình bày cho nhẹ nỗi trách nhiệm làm người trước một xã hội, đất nước của mình đang dự phần, với niềm mong mỏi mỗi ngày mỗi tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn.
Còn nhiều truyện của anh nữa, những 64 cơ mà, tôi chỉ khái quát, còn các bạn đọc để thấy rằng rất nhiều chuyện thú vị nếu ta suy gẫm.
Để kết thúc bài viết nầy, tôi chỉ thêm mấy dòng thơ của thi sĩ Hoài Khanh, một thi sĩ tài hoa lúc nào cũng đau đáu trước nổi đau thân phận như sự đồng cảm với tác giả Nguyễn Châu:
… Và em lại ra đi như đã đến
Dòng sông xưa thân ái chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây có mọc hoang vu
( Thân phận )
NDT
Mùa Xuân Mậu tuất 2018
PHẠM NGỌC DŨ
Tel 0908 059 222

Posted in 03. Bình thơ | Leave a Comment »

ANH VẪN BIẾT Thơ Trần Thoại Nguyên

Posted by thinhanquangngai1 trên 10/04/2018

ANH VẪN BIẾT

Anh vẫn biết yêu em là khổ lụy
Trái Tim hồng lò lửa cháy cuồng điên
Hồn thơ thẩn như tâm thần mộng mị
Suốt sáng chiều lãng đãng nhớ…suốt đêm!

Anh vẫn biết Tình Yêu không có tuổi
Cây khổ đau xanh cành lá duyên tình
Mầm Hạnh Phúc ra chồi hoa Lễ Hội
Ly rượu mừng hương ngát ngọt môi Em

Anh vẫn biết Tình Yêu là có thực
Cần hơn áo cơm. Ánh sáng của hồn
Trong tiền kiếp mênh mông từng hẹn ước
Chốn dương trần hòa nhịp thở, nụ hôn.

Anh vẫn biết Mùa Xuân Xanh ảo mộng
Vàng son bay…
Còn râu tóc ưu phiền!
Màu năm tháng phôi pha
Hoa tàn rụng
Anh vẫn ngồi thương nhớ đợi chờ Em !

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

GIẤC MƠ BUỒN Thơ Bùi Minh Vũ

Posted by thinhanquangngai1 trên 10/04/2018

GIẤC MƠ BUỒN

Tôi lắp ghép mười giấc mơ thành bờ xe nước
Bên sông Trà
Khi nước lua khua trên mương
Dẫn về cánh đồng đất ải
Giấc mơ mục ra
Những thanh tre không chống nỗi
Thời gian bềnh bồng trong cõi trăng xa

Tôi lại lắp ghép mười giấc mơ thành bờ xe nước
Ai sẽ cùng tôi
Cấy lên dòng sông một giấc mơ xưa
Xôn xao và hứng khởi
Cho lớp trẻ chạm tay
Và tin rằng giấc mơ kia là thật

Ôi giấc mơ
Tròn như bờ xe nước
Mãi buốt lạnh
Bên Bờ Kè
Mùa tháng ba nức nẻ
Chim chà chiện bay đi
Mang theo giấc mơ
Buồn…
BÙI MINH VŨ

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

HOÀI NIỆM HOA NẮNG NGÀY XANH.Thơ Trần Thoại Nguyên

Posted by admintnqn trên 22/03/2018

HOÀI NIỆM HOA NẮNG NGÀY XANH

Đời chảy về đâu sông tháng năm
Mùa xưa con nước đẹp trăng rằm
Ngày xanh hoa nắng xanh màu tóc
Em liếc nhìn tôi mắt lá răm.

Tôi vẽ trái tim xuyên mũi tên
Em thêu áo gối phượng vầy uyên
Hồn tôi mơ mộng trăng sao thức
Lưu bút ngày xanh thắp mộng huyền

Lòng thơm như lụa nõn vàng tơ
Hoa bướm trinh nguyên lay cánh thơ
Tôi tặng em mùa xuân thứ nhất
Vần thơ tình theo gió thiên thu!

Tôi bây giờ lặng lẽ mình tôi
Sóng vỗ thời gian chiếc lá trôi
Mây trắng còn bay chiều nắng tắt
Hoa xưa hư ảo mộng đời thôi!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ Của Hồng Phúc

Posted by admintnqn trên 22/03/2018

CHÙM THƠ CỦA HỒNG PHÚC (Buôn Hồ)

HOA GẠO
Chùm hoa gạo rực khung trời
Tim rung thổn thức nói lời yêu thương .
Cho tôi một thoáng quê hương
Mùa xuân sưởi ấm nẻo đường tôi đi .

SÔNG TRÀ BỒNG
Trà Bồng dòng chảy mênh mông
Phù sa bồi đắp ruộng đồng bao la .
Dù cho cách biệt quê nhà
Chiều nghiêng bóng đỗ phương xa ..nhớ về

CHÙM PHƯỢNG VỸ
Em chở mùa thương về đâu..?
Để chùm phượng vỹ úa sầu rụng rơi .
Sân trường vắng lặng chơi vơi
Màu hoa đỏ khóc cả trời chia ly .

NHỚ HOÀI
Người về mi khép rèm mi
Trời đêm cô tịch cố tri xa rồi .
Đâu rồi màu mắt tinh khôi
Nụ cười duyên dáng trong tôi nhớ hoài .

TRĂNG CÔI
Ngày ấy em nói ghét tôi
Ta về hóa mãnh trăng côi cuối trời .
Bóng chiều điểm hạt sương rơi
Ngồi ôn kỷ niệm..Người ơi dại khờ ..

Hồng Phúc

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »

CHÙM THƠ II. Của Lê Tửu

Posted by thinhanquangngai1 trên 13/03/2018

CHÙM THƠ II. CỦA LÊ TỬU 

                                      ĐẤT VẠN QUÊ YÊU

Đất Vạn quê mình thật đáng yêu
Mùa hè gió mát thổi hiu hiu
Cầu kia Bến Lỡ người chờ gió
Đất nọ Bãi Quỳnh kẻ ngủ chiều
Đêm đến, đèn chong đường ngõ cuối
Ngày về, nắng toả xóm làng biên
Thôn ta nếp sống đà thay đổi
Hỡi bạn xa quê dạ có yêu?

NẮNG XUÂN

Vừng hồng toả rạng ánh bình minh
Trải nắng xua tan giọt hữu tình
Chim chóc tìm mồi đang nhảy nhót
Nai vàng gặm cỏ vễnh tai nghinh
Ngày xuân ong lượn tìm hoa đậu
Đêm hạ cuốc than gọi bạn tình
Xuân đến muôn hoa đua nở rộ
Xuân tàn cây cỏ sống linh đinh…

NHÌN TRỜI

Bên thềm đưa mắt hướng trời Đông
Mù mịt buồn ơi dạ chất chồng
Đất lở thiên tai ta tái tạo
Đảo nhà kẻ lạ họ giành không
Nhìn trời xót ruột lý người mạnh
Thấy đất đau lòng ỷ sức đông
Dòng dõi cháu con Âu Lạc Việt
Đâu rồi! Há để mặc non sông…
NGÓNG TRÔNG
Nghểnh cổ nhìn trời thử nắng mưa
Mịt mù càng ngóng thấy đà trưa
Lần hồi khẽ bước mong tìm tới
Lật đật nhanh chân sẽ đến vừa
Lạnh lẽo ao sâu không cá lội
Nóng oi hồ cạn vắng tôm thưa
Ruộng đồng đây đó đều khô cạn
Chim chóc đói mồi đổ bến xưa.

NGẬP LỤT

Đêm qua lũ kéo ập vào nhà
Cửa đóng, then cài xúm tạt ra
Bếp núc lềnh bềnh soon đụng chảo
Bàn ăn nghiêng ngửa chén mâm va
Trong phòng nước ngập quần xăn ống
Ngoài cửa gió lùa áo ló da
Biển nước mênh mông vang dội sóng
Bò kêu, heo éc, tiếng người la…
NGOẢNH NHÌN
Ngoảnh nhìn thương hại cảnh ông cha
Mái lá vách phên tạo cửa nhà
Che chở gia đình đêm gió lạnh
Bảo tồn con cháu buổi mưa sa
Củ rau đỡ lòng khi lưng dạ
Cơm cháo đủ đầy lúc thắm da
Thân phận con người trong thuở ấy
Cũng đành cam chịu khó lòng qua.

LÊ TỬU

Posted in 01. Thơ | Leave a Comment »