Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 512 776 Lượt

Nguyễn Vỹ- Nhân tích của một vùng đất và một thời đại

Posted by NHD trên 04/09/2007

Nguyễn Vỹ- Nhân tích của một vùng đất và một thời đại
Đỗ Lai Thúy

Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay co…

Thành ngữ

1. Quảng Ngãi, xét về địa lý, có điều thiệt thòi là nằm giữa Quảng Nam – Đà Nẵng và Bình Định. Trên đường thiên lý Bắc Nam, từ Đà Nẵng khách thường đi tuột vào Bình Định, bỏ qua Quảng Ngãi như một vùng đất trung chuyển, không có bản sắc riêng. Về văn hóa, quả thật người ta cũng nghĩ như thế. Sau khi đã no nê với Ngũ Hành Sơn, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, du khách hăm hở vào Bình Định xem nốt cụm tháp Dương Long, Cây me Nguyễn Huệ, thành Hoàng đế, đầm Thị Nại… Dù cho Quảng Ngãi hay co, cũng khó mà kéo níu được chân của người ngang bước.

Lần đầu tiên tôi đến Quảng Ngãi là năm 1984, khi đó tỉnh chỉ là một bộ phận của Nghĩa Bình. Công việc của tôi bấy giờ là phụ tá Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện làm phim tài liệu Đất Tây Sơn và một số chuyên san Etudes Vietnamiennes về tuồng và võ, mà đấy lại là hai đặc sản của đất Bình Định, nên, quả thực, về đất và người Quảng Ngãi tôi chỉ có một ấn tượng mía đường.

Năm 2006, sau hơn hai mươi năm, tôi mới có dịp trở lại đất này. Quảng Ngãi bây giờ đã là một chủ thể hành chính và, do đó, một chủ thể văn hóa. Tôi đã đi ngang dọc Quảng Ngãi, từ núi Ấn sông Trà đến bãi biển Sa Kỳ, lần theo dấu tích Bích Khê, thậm chí ra cả đảo Lý Sơn. Có thể nói, tôi đã phát hiện ra một Quảng Ngãi trong Quảng Ngãi mà tôi đã biết trước đây. Bởi thế, trước khi từ biệt núi Ấn sông Trà, tôi nói với anh Nguyễn Đăng Vũ, Phó giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin:

– Nếu đọ di tích, nhất là di tích Chăm, với Quảng Nam và Bình Định, thì Quảng Ngãi chỉ có thua. Nhưng tôi thấy các anh rất giàu một loại di tích khác: đó là con người. Con người, nhất là người tài, để lại những giá trị văn hóa to lớn cho đất nước. Con người, cũng như những tượng đài văn hóa khác, dễ bị thời gian vùi lấp, nhất là khi ta nhìn bằng con mắt ý hệ, dễ bị biến thành những di tích, phế tích. Việc phục dựng một con người văn hóa khó hơn nhiều sự phục dựng những ngôi đền miếu. Nhưng chính con người lại là thế mạnh của Quảng Ngãi. Một vùng đất trung chuyển, do tính mở của nó, lại dễ làm nảy sinh những tài năng phóng khoáng và độc lập. Mà Quảng Ngãi hình như thời nào cũng có nhân tài. Từ những nhân tài trị quốc, chính trị, quân sự đến thơ văn, như Trương Đăng Quế, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chánh, Bích Khê, Trà Giang, Thanh Thảo… Những tài năng này mọc ra từ tấm lòng nhân ái mênh mông và tinh thần trách nhiệm với đất nước của người dân Quảng Ngãi. Những tấm lòng biển khơi ấy tôi đã thấy ở đền thờ sống trước khi những người đi tiếp vận và trấn giữ hải đảo Trường Sa xuất phát ở Lý Sơn thuở chưa xa.

2. Về Quảng Ngãi lần này, trong những anh tài xứ sở, tôi muốn nói tới trường hợp Nguyễn Vỹ, như là một phát hiện của mình và cho mình. Trước đây, tôi chỉ biết Nguyễn Vỹ qua vài dòng tiểu sử ngắn ngủi và hai bài thơ lạ lùng Sương rơi và Gửi Trương Tửu của ông trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân. Bây giờ chính trên quê hương ông, tôi mới biết Nguyễn Vỹ còn có một nhân cách, một sự nghiệp văn chương và báo chí tương xứng với hai bài thơ trên.

Nguyễn Vỹ, với các bút hiệu Tân Phong, Lệ Chi, cô Diệu Huyền, Tâm Trí, sinh năm 1910 ở làng Tân Hội (sau đổi là Tân Phong), huyện Đức Phổ, trong một gia đình yêu nước và cách mạng. Thân phụ Nguyễn Vỹ là Nguyễn Tuyên đang làm quan ở huyện Tuy Phước, Bình Định thì từ chức; bác ruột là Nguyễn Thuyên từng tham gia phong trào Duy tân năm 1908 và bị đày ra Côn Đảo; anh họ là Nguyễn Nghiêm, lãnh đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh ở Quảng Ngãi hồi năm 1930 và bị Pháp giết. Một gia phong như thế không thể không để lại những ảnh hưởng cho Nguyễn Vỹ

Thuở nhỏ, Nguyễn Vỹ học tiểu học ở Quảng Ngãi, học trung học ở Quy Nhơn. Tại đây, ông tham gia bãi khóa để tang Phan Chu Trinh, bị đuổi học nên phải ra Hà Nội học tú tài. Ông tham gia viết các báo Văn học tạp chí, Tiểu thuyết thứ Năm, L’ami du peuple (Bạn dân), La Patrie Annamite (Tổ quốc An Nam)…, rồi đứng ra chủ trương Le Sygne (Thiên Nga). Năm 1937, bị 6 tháng tù ở Hà Nội vì một bài báo trên Le Sygne đụng chạm đến thực dân Pháp. Năm 1940, bị Pháp rồi Nhật bắt đi tù ở Trà Khê Phú Yên. Mãi tới 1945, ông mới được thả tự do. Từ năm 1946, ông sống ở Đà Lạt, rồi Sài Gòn, đứng chủ nhiều tờ báo như Dân ta, Phổ thông, Bông Lúa, tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm. Ông nổi tiếng là người dám nói sự thật. Nguyễn Vỹ chết vì tai nạn xe hơi ngày 14-2-1971.

Nguyễn Vỹ để lại một khối lượng đồ sộ tác phẩm. Thơ có: Tập thơ đầu – Primières poésies (Hai thứ tiếng Việt và tiếng Pháp, 1934), Hoang vu (1962); truyện ngắn có: Vinh và nhục của Nguyễn Văn Nguyên (Đông Tây, Hà Nội, 1936); tiểu thuyết có: Đứa con hoang (Minh Phương, Hà Nội, 1938), Người yêu của hoàng thượng (Minh Phương, Hà Nội, 1938), Thi sĩ Kỳ Phong (Nam Ký, Hà Nội, 1938), Chiếc bóng (Cộng Lực, Hà Nội, 1941), Dây bí rợ (1957), Chiếc áo cưới màu hồng (1957), Hai thiêng liêng (1957), Mồ hôi nước mắt (1965); chính luận có: Kẻ thù là Nhật Bản (tiếng Pháp, 1938), Cái họa Nhật Bản (tiếng Pháp, 1938), Đứng trước tấn kịch Pháp – Việt (tiếng Pháp, 1947); biên khảo có: Những người đàn bà lừng danh trong lịch sử (1970); cuối cùng là hai cuốn sách đặc biệt: Tuấn, chàng trai nước Việt (tập 1 và 2, 1970) và Văn thi sĩ tiền chiến (1970). Tôi nói hai tác phẩm này là đặc biệt không chỉ bởi thể loại, mà, quan trọng hơn, chúng chứa đựng nhiều chứng tích của một thời đại.

3. Viết Tuấn, chàng trai nước Việt, Nguyễn Vỹ không viết theo thể loại hồi ký. Bởi, viết hồi ký, tuy nói lên được những cảm nhận cá nhân trước cuộc đời, trước thời cuộc, nhưng dễ bị bó hẹp vào câu chuyện cái tôi. Mà Nguyễn Vỹ thì không muốn thế. Ông muốn nói về cả thế hệ mình, thế hệ trước mình và sau mình. Tóm lại, xã hội Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945. Và những vấn đề của nó. Nhưng ông cũng không muốn viết theo thể tự truyện, tuy được tự do hư cấu vì đó là truyện, nhưng vẫn đảm bảo được tính chân xác của sự kiện do nhân vật kể về mình. Đi giữa hồi ký và tự truyện, Nguyễn Vỹ vừa đảm bảo được tính chân xác của tư liệu, sự trải nghiệm bên trong, chủ quan của người kể chuyện, vừa đủ khách quan để dựng lại chân dung các thế hệ người. Ông gọi tác phẩm của mình bằng cái tên có thể hiểu như là thể loại cũng được và như là nội dung cũng không sai: chứng tích thời đại (ở Tuấn, chàng trai nước Việt), chứng dẫn thời đại (ở Văn thi sĩ tiền chiến).

Ai muốn lấy tư liệu về một xã hội Việt Nam quân chủ Nho giáo nông nghiệp cổ truyền đang từng bước chuyển sang hiện đại phương Tây hóa như thế nào, tưởng không đâu hơn ở Tuấn, chàng trai nước Việt. Ở đó sẽ thấy những do dự vừa bi vừa hài của việc thay đổi trang phục, đầu tóc, học chữ ta (tức chữ Hán) hay chữ tây (không chỉ chữ Pháp, mà ban đầu cả chữ quốc ngữ nữa!); rồi bao giờ thì xuất hiện chiếc xe đạp, chiếc đồng hồ, lần đầu tiên dân chúng được nhìn thấy máy bay; rồi ông đồ đi xe ô tô cảm hứng làm thơ, người thanh nữ đầu tiên đi xe đạp từ Sài Gòn ra Hà Nội là ai và vì sao tổ chức chuyến đi này; rồi vân vân và vân vân. Đó là những chứng tích cụ thể, sống động xảy ra ở Quảng Ngãi, Quy Nhơn – Bình Định, miền Trung và toàn cõi Việt Nam. Đó là những chứng tích do một chàng trai lớn lên, đổi thay cùng với đất nước nhìn thấy, trải nghiệm và kể lại. Nhưng điều hay hơn ở Nguyễn Vỹ là xuyên qua rừng tư liệu ấy, người đọc có thể rút ra sự hình thành một thế hệ thanh niên của đất nước tiêu biểu cho thời đại bấy giờ. Đó là thế hệ Nguyễn Vỹ, thế hệ của Tuấn mà ông định danh là chàng trai nước Việt.

Những người học tiếng Pháp đầu tiên, lứa đầu của tiểu học Pháp – Việt thì sớm ra đời làm thầy thông thầy phán. Chữ Pháp cũng như học thức của họ chưa đủ để cho đầu óc khỏi lệ thuộc. Còn những con cái gia đình có công với cuộc chinh phục Pháp được đi du học nước ngoài về thì đa phần trở thành những “ông Tây An Nam”. Họ “thừa” chữ Pháp nhưng lại thiếu một căn bản dân tộc. Bởi thế, chỉ có lứa của Tuấn, đang học trung học vào năm 1925, 1926, khi phong trào đòi ân xá Phan Bôi Châu và đám tang Phan Chu Trinh lan rộng toàn quốc, là hội tụ đủ điều kiện để trở thành một thế hệ trí thức mới. Họ có đủ tiếng Pháp để tiếp tu văn hóa Pháp từ chính quốc và, quan trọng hơn, được tài bồi một lòng yêu nước, một tư tưởng chống thực dân Pháp, cuối cùng họ đủ đông để trở thành một thế hệ. Tôi tạm gọi họ là tầng lớp Tây học bản địa. Họ sẽ trưởng thành vào đầu năm 1930, thay thế xứng đáng cho tầng lớp trí thức Nho học, để xây dựng một nền văn hóa mới, văn hóa đô thị hiện đại kiểu phương Tây.

4. Tân nhạc, hội họa sơn dầu, kịch nói, báo chí xuất bản, điện ảnh, đặc biệt là văn học với thơ mới, tiểu thuyết, phê bình văn học, đều là thành quả của thế hệ trí thức này. Chân dung của họ đã được Nguyễn Vỹ vẽ lại một cách sống động, đặc sắc như là những chứng dẫn thời đại trong Văn thi sĩ tiền chiến.

Trước hết, họ là những người rất trẻ. Trẻ về tuổi đời. Họ đều nổi danh ở tuổi 19, 20. Học vấn của họ cũng không phải là cao. Đa phần tốt nghiệp tú tài (THPT), số ít tốt nghiệp thành chung (THCS), thậm chí có người mới hết tiểu học. Thế mà họ đã làm được những kỳ công văn hóa, thực hiện được cuộc cách mạng văn chương. Lý giải điều này, qua Nguyễn Vỹ, có thể thấy những chàng trai nước Việt này đều có lòng yêu nước và biểu hiện của nó là khát vọng xây dựng một nền văn chương mới cho dân tộc. Bởi thế họ có tư thế (để) tiếp thu văn chương Pháp, không phải với tư cách chịu ảnh hưởng, bắt chước, lệ thuộc, mà là sự phát triển tương ứng. Đây là lối tiếp thu chủ động, sáng tạo, tiếp thu tinh thần và vật liệu của người để xây dựng ngôi nhà riêng của mình. Thật khác với vài lối tiếp thu sau này. Họ yêu tiếng Pháp, say mê văn chương Pháp mà vẫn viết ra những câu văn rất Việt.

Những cách tân văn chương của họ thành công dễ dàng còn do họ được tiếp sức bởi một không khí thời đại: Sự phấn đấu cho công cuộc hiện đại hóa văn chương như là sự khẳng định trình độ và tư cách dân tộc. Tinh thần này được kết tinh trong thái độ của công chúng bấy giờ. Người đọc thuở ấy chờ đợi từng số báo Phong hóa, Ngày nay, từng bài thơ Huy Cận, Xuân Diệu, từng truyện ngắn, tiểu thuyết của Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng… Có thể nói, lớp độc giả ấy đồng hành cùng với tác giả. Họ đòi hỏi, cảm thông và bận tâm cùng với tác giả. Họ tham dự vào công cuộc đổi mới văn chương, như người tham dự vào một lễ hội, không còn phân biệt ai là chủ thể ai là khách thể, mà là chủ khách thể hoặc khách chủ thể. Sự đồng sáng tạo này giữa người sáng tác và người đọc về sau không còn lặp lại, phải chăng vì thế mà chúng ta còn chưa có cuộc cách mạng văn chương lần thứ hai?

Mặc dù là những người yêu tiếng Pháp và say mê văn chương Pháp, trong đó có nhiều người viết văn Pháp nổi tiếng như Phạm Văn Ký, Từ Bộ Hứa, Nguyễn Tiến Lãng, nhưng họ, những văn thi sĩ tiền chiến ấy, đều là những người máu thịt với văn hóa, văn chương dân tộc. Họ đều giỏi thơ Đường, thuộc nhiều ca dao tục ngữ, mê hát dân ca, tuồng chèo như cha ông họ. Xây dựng một nền văn hóa mới, hiện đại, họ không cắt đứt truyền thống, phủ nhận truyền thống, cũng như không bê nguyên truyền thống mà quay lại khai thác truyền thống nhằm phục vụ hiện đại. Những tác phẩm văn chương sáng tạo, mới mẻ, nhưng cũng hết sức nhuận nhị trong sáng của thế hệ này có thể giúp chúng ta ngày nay rút ra một bài học cho đổi mới là: chỉ khi đứng trên đỉnh cao trí tuệ của thế giới hiện đại thì việc khai thác quá khứ dân tộc mới có hiệu quả, mới đóng góp được cho tương lai.

Đặc điểm cuối cùng của thế hệ văn thi sĩ tiền chiến này là họ đều là những trí thức tự do. Nhiều người đã hành nghề công chức, nhưng họ đều bỏ để ra làm nghề dạy tư, luật sư tự do, bác sĩ có phòng khám riêng, hoặc làm báo, viết văn, làm thơ sống bằng đồng tiền nhuận bút khá bấp bênh. Bởi thế, họ đều nghèo, có tư cách và, quan trọng hơn, giữ được tư cách. Họ sống và suy nghĩ một cách độc lập, không bị mua chuộc, không bị lôi kéo bởi bả vinh hoa hay sức ép của chính quyền thuộc địa. Ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên có một lớp người trí thức tách ra khỏi ông quan, nhà văn nhà thơ tách ra khỏi người viên chức. Văn chương của họ, bởi thế, cũng lần đầu tiên thoát khỏi tính công cụ có mục đích tự thân là tìm kiếm cái đẹp.

5. Trở lại, Nguyễn Vỹ quả thực là con người điển hình của thế hệ trí thức mới này. Ông là người yêu nước chống Pháp ngay từ học sinh trung học và chống Nhật sau này. Ông khát khao xây dựng một nền văn chương mới. Tham gia viết hầu hết các thể loại, nhưng ông thành công hơn cả với tư cách một nhà thơ. Hai kiệt tác, Sương rơi và Gửi Trương Tửu là hai điệu tâm hồn ông, điệu tâm hồn thế hệ ông. Một, Sương rơi với thể thơ hai chữ tả giọt sương rơi đều đều, chậm chậm gợi một cảm giác mất mát của tình yêu và hai, Gửi Trương Tửu, với thể thất ngôn trường thiên đượm vẻ hài hước cay chua thể hiện tâm trạng phẫn uất của một nhà văn An Nam trong xứ sở thuộc địa.

Sự cách tân thơ Việt của Nguyễn Vỹ còn được thể hiện ở việc mở rộng câu thơ đến 12 chân. Sự không thành công của trường phái Bạch Nga này có thể là bấy giờ trong cái vỏ ngoài có vẻ bắt chước của nó là sự còn quá mới, vượt ngưỡng tiếp nhận của người đọc, hay thực sự câu thơ Việt (tức cái hơi của người Việt) chỉ thích hợp với độ dài vừa phải của thể thơ 5, 7 chữ? Những nhà thơ thể nghiệm hiện nay liệu có học được gì ở Nguyễn Vỹ?

Làm cả thơ bằng tiếng Pháp, viết cả tiểu luận bằng Pháp văn, nhưng trước sau Nguyễn Vỹ vẫn tha thiết với sự nghiệp văn chương tiếng Việt. Ông đã hơn một lần gửi thông điệp khuyến cáo các nhà văn viết tiếng Pháp như Phạm Duy Khiêm, Phạm Văn Ký, Nguyễn Tiến Lãng… quay về viết Việt văn để có đóng góp cho văn hóa văn chương dân tộc. Bởi, theo ông, những nhà văn nói trên dù giỏi đến đâu vẫn chỉ là những kẻ “ngụ cư” văn hóa, chờ đến khi được ghi nhận là “chính cư” thì đã không còn là người Việt Nam rồi!

Nguyễn Vỹ, tóm lại, sự nghiệp văn chương, sự nghiệp báo chí, so với những người cùng thời, không phải là lớn lắm. Nhưng cuộc đời hoạt động văn chương và báo chí sôi nổi, nhất là những quan sát, trải nghiệm những sự thay đổi của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX được ghi lại trong Tuấn, chàng trai nước Việt và Văn thi sĩ tiền chiến, đã để lại những chứng tích giá trị. Như thế, với tư cách một chứng nhân và một người tham dự, cuộc đời Nguyễn Vỹ – người con của Quảng Ngãi và con người của thế hệ mình – là một giá trị văn hóa.

6-2007

Đ.L.T
Nguồn: vanhoanghethuat.org

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: