Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 512 776 Lượt

NGUYỄN VỸ: Say… Viết – ‘’GỬI TRƯƠNG TỬU’’

Posted by thinhanquangngai1 trên 18/10/2007

NGUYỄN VĨ: Say… Viết – ‘’GỬI TRƯƠNG TỬU’’
LÊ XUÂN QUANG

Tôi đã biết tiếng Nguyễn Vỹ từ hơn 40 năm trước nhân một lần dự sinh nhật của anh bạn viết văn trẻ Trần Qúy Thường. Khi rượu đã ngà ngà, Thường đọc cho cả bàn nghe 3 khổ thơ của bài gửi Trương Tửu, trong đó có câu ‘’… khổ như chó’’ . Mọi người nghe xong trầm trồ tán thưởng, đề nghị Thường đọc cả bài. Thường lắc đầu: Tớ cũng chỉ nghe thằng bạn là sinh viên Khoa Văn trường đại học Tổng hợp đọc, toàn bài dài, chỉ nhớ nhất đoạn thơ này, cậu ta bảo đọc tại chỗ trong thư viện Quốc gia (đường Tràng Thi Hà Nội).
– Thề thì chúng mình đến đó đọc rồi chép lại – một người góp ý.
Trần Qúy Tường lắc đầu: Cậu tưởng đơn giản thế a? Vào đây đọc phải có thẻ. Muốn có thẻ phải có tiêu chuẩn… chúng ta không thể có các tiêu chuẩn để được cấp thẻ!

Từ đó, tôi cố gắng tìm hiểu về NV nhưng không hề có sách báo nào nhắc đến tên ông. Đầu thế kỉ 21, tôi mới được đọc toàn văn bài Gửi Trương Tủu và biết chút ít về NV qua lời kể của ông Đỗ Đình Thọ, trong Nguyễn Bính Thơ và Đời. Rất may cách đây 3 tuần tôi tìm được cuốn Toàn Tập Thi Nhân Tiền Chiến Việt Nam của Nguyễn Tấn Long trong ngăn tiếng Việt của Thư viện thành phố Berlin – mới biết tường tận về thi sĩ Nguyễn Vỹ.

Những năm 30 của thế kỉ 20 – nhất là 3 năm (1936 – 1939) – Dưới tác động của Mặt trận Bình Dân lên năm quyền ở Pháp, chế độ kiểm duyệt của thực dân Pháp ở Đông dương được nới lỏng, văn đàn Việt Nam trở nên sôi động trong không khí tìm tòi sáng tạo. Nhờ vậy nhiều tác phẩm Văn, Thơ có gía trị Nhân bản – Nghệ thuật ra đời, đánh dấu một thời đại mới của Văn học Việt Nam đương đại. Trong đó phải kể sự chuyển mình của thi ca và phong trào Thơ Mới!

Thơ – là ‘’Tiếng lòng’’ của người nghệ sĩ dùng ngôn ngữ cùng phương pháp trình bầy để diễn đạt. Thơ Mới ra đời, được viết ra bởi người viết hoàn toàn tự do, không bị các quy tắc của thể thơ cũ gò bó, ảnh hưởng, ràng buộc (1). Thơ Mới đã mang lại cho Thi đàn Việt Nam luồng gió mới, sản sinh nhiều cây bút trở thành những ngôi sao chói sáng trên bầu trời Văn chương. Nguyễn Vỹ – Thi sĩ có cá tính độc đáo – là một trong số những ngôi sao đó. Ông góp phần tô đậm diện mạo văn học Việt trong buổi đầu chuyển mình. Sự hiện diện của Nguyễn Vỹ đã in dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc Việt Nam ở những năm 30 của thế kỉ 20 và tiếp tục cho đến hôm nay!

Theo Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân (xuất bản năm 1942): Nguyễn Vỹ sinh năm 1910 (2) tại Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Thời thanh niên đã từng cắt tóc đi tu. Tu không thành, phá giới đi gánh cát thuê ở bãi sông, bán kẹo ở Hà Nội, bán báo ở Sài Gòn… Sau thời gian lăn lộn trong mội trường thực tế đầy khắc nghiệt, lam lũ… dường như đã đủ ‘’vốn sống’’, Nguyễn Vỹ quyết định về Hà Nội, hành nghề viết văn, làm báo cùng bạn văn đất Hà Thành. Điều đáng chú ý: Ông đã cùng nhà văn Trương Tửu, Họa sĩ Nguyệt Hồ thành lập nhóm Việt – Pháp, ra tờ báo tiếng Pháp Le Cygne, nhằm truyền bá tư tưởng tiến bộ.

Tòan tập Thi Nhân Tiền Chiến – Việt Nam (nxb Văn học – Nguyễn Tấn Long – 1998) thì viết: Tờ Le Cygne có rất nhiều bài viết công kích chính sách , đường lối cai trị của thực dân Pháp… Cơ quan An ninh thực dân, nhận ra: Le Cygne sẽ là mối họa tiềm ẩn đối với chế độ. Họ vội bắt chủ báo Nguyễn Vỹ , đóng cửa vĩnh viễn tờ Le Cygne – kết án tù 6 tháng và phạt 3000 quan tiền . Hết hạn, ra tù, trở về, ông lại viết, chống quân phiệt Nhật… lại bị Nhật bỏ tù.

Ra tù, vào Sài Gòn, làm báo Tổ Quốc, rồi báo Dân chủ, Dân ta, tiếp tục đấu tranh không khoan nhượng với chính quyền, bảo vệ quyền lợi cho dân cần lao. Kết qủa: Tất cả các tờ báo đều bị bị đóng cửa. Dường như suốt thời gian dài, liên tục Nguyễn Vỹ, dùng cây bút, tài năng để phản kháng, phê phán, đấu tranh với bất công.

Ngày 7,2.1971, ông mất trong một tai nạn xe hơi trên đường Sài gòn – Tiền giang (3).

Ông Đỗ Đình Thọ kể lại trong tác phẩm: Nguyễn Bính – Thơ và Đời (nxb Văn học 2000): Nguyễn Vỹ rất giỏi tiếng Pháp, làm thơ tiếng Việt khá hay. Một giai thoại văn chương rất thú vị, thời đó lưu truyền thể hiện thi tài, cá tình của Nguyễn Vỹ: Trong một lần Trưởng phòng Kiểm duyệt báo chí của sở Mật Thám Bắc Kì – René Creyssac (R.C) – ‘’tạ sự’’ đến thăm nhóm Việt – Pháp (lúc Báo chưa bị đóng cửa) – mà theo tin tức mật vụ: Nhóm – có xu hướng ‘’Dân chủ – Tự do’’ – gồm: Nguyễn Vỹ, Nguyễn Bính và Họa sĩ Nguyệt Hồ. 3 người quyết định tìm cách đánh tan ấn tượng xấu về Le Cygne của R. Creyssac. Họ bàn bạc đi đến thống nhất: Rủ y đi ăn, nhậu, giải thích, tranh thủ… rồi ‘’chiêu đãi’’ thuốc Phiện ở tiệm thuốc nổi tiếng Hà Thành thời đó – tiệm Phi Yến Thu Lâm, phố Mã Mây.

Để quảng bá cho thương hiệu mình, chủ tiệm cho kẻ chữ Phi Yến Thu Lâm (Yến bay trong rừng Thu), đồng thời vẽ đôi chim Yến bay trên bầu trời. Các khách hút, thường tán: Phiện Thú Lắm (Phi Yến = Phiện. Thu Lâm = Thú Lắm). R.C là con cáo gìa trong nghề. Y rất giỏi tiếng Việt, tiếng Hán, thuộc Truyện Kiều và am hiểu văn hóa Phương Đông. Cao hứng và cũng muốn thử tài văn sĩ Bắc Hà, R.C ra một đề cho những người mời ăn, hút – cùng làm thơ, hứa rằng nếu bài thơ hay sẽ được thưởng ‘’mấy điếu (thuốc phiện) chính hiệu…’’. Mọi người tán thưởng. R.C chậm rãi đọc đề ra:
‘’Phi yến Thu Lâm… nghĩ cũng hay’’ – đoạn dơ tay làm điệu bộ – Xin mời!
Nguyễn Bính nối ngay:
‘’Nằm trên giường, tựa nằm trên mây’’
Nguyễn Vỹ nối bằng tiếng Pháp nhưng lại hợp cảnh, hợp tình đúng niêm luật:
‘’Uyn, Đơ, Troa, Cát – Ken- cờ- Píp’’ (quelques Pipes)
Nguyệt Hồ – kết:
‘’Quật ngã A nam, ngã cả Tây’’!
Bài thất ngôn tứ tuyệt, liên hoàn – của cả 4 người – nói về cảnh hút thuốc Phiện và cái thú đi mây về gió thật hay:

Phi Yến Thu Lâm nghĩ cũng hay
Nắm trên giường tựa nằm trên mây
Uyn đơ, Troa, Cát – Ken cờ Píp
Quật ngã A Nam, ngã cả Tây! (4)

Điều hay, thú vị ở câu thứ 3: Toàn chữ Pháp nhưng lại rất đúng niêm, luật, âm điệu và rất chỉnh cả nghĩa liên hoàn lẫn tiếng, chữ viết. Thú vị hơn: Nói đúng hoàn cảnh của những con nghiện đang ‘’làm tình’’ Nàng tiên nâu. Quan Cẩm dù rất khó chịu câu thư 4 ‘’…quật… ngã cả Tây’’, nhưng Nguyễn Bính nhanh trí ‘’giải thích’’… quan ta nghe, miễn cưỡng… khen hay và giữ đúng lời hứa…

Sự nghiệp Văn – Thơ của Nguyễn Vỹ rất đồ sộ.
Ông để lại nhiều tác phẩm gồm tiểu thuyết, biên khảo, thơ… Trong đó có 2 bài thơ rất gía trị: Gửi Trương Tửu và Sương Rơi.
Đặc biệt là Bài Gửi Trương Tửu. Đầu bài thơ đề tựa: Viết trong lúc say…
Trên đời có 2 loại người chỉ nói thật, không nói dối: Sắp… chết và Sắp… say (rượu).
Gửi Trương Tửu – theo thể thơ thất ngôn trường thiên, độc vận. Toàn bài được TNVN đăng tải – gồm 6 đoạn, 40 câu, mỗi đoạn nói về một vấn đề. Theo thông lệ của thơ Đường – Vào đề: Tác gỉa giải thích nguyên nhân có lá thư gửi cho bạn rượu – Trương Tửu:

Nay ta thèm rượu nhớ mong ai
Một mình rót uống chẳng hề say
Trước kia hai thằng hết một nậm
Trò truyện dông dài, mặt đỏ xẫm
Nay một mình ta một be con
Cạn rựơu rồi thơ mới véo von

Nhà thơ đang ‘’khát ‘’rượu, có rựơu nhưng chỉ có một mình. Rượu ngon… (lại) không có bạn hiền, nên nhớ tới Trương Tửu, đành tâm sự với bạn trong tâm tưởng rồi khẳng định: Chỉ cạn rượu (say), ‘’thơ mới véo von’’.
Tiếng hót véo von của chim họa mi là tiếng hót hay.
Thơ ‘’véo von’’ cũng có thể hiểu là thơ hay…

Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác
Mà coi đồng tiền như cái rác
Kiếm được xu nào đem tiêu hoang
Rủ nhau chè chén nói huyênh hoang
Xáo lộn văn chương với chả cá
Chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả
Rồi ngủ một đêm, mộng với mê
Sáng dậy nhìn nhau cừơi hê hê…

Có hơi men, tác gỉa nhớ về qúa khứ, về thời – cả hai nghèo kiết xác. Nhưng khi có tiền, họ vẫn hoang toàng trong đời sống, vung vãi tinh lực, kiến thức – trong những trận say túy lúy để có sức ‘’chửi Đông, chửi Tây’’ cho sướng miệng rồi kéo nhau đi thưởng thức món chả cá ngon có tiếng của đất Hà Thành. Đêm đến tiếp tục say với mộng mơ… sáng dậy không còn nhớ chiếc ‘’Văn tự’’ mua bán… ‘’Trời’’ – kia. Sau trận ‘’quên hết sự đời’’. trở về cõi thực, cả hai nhìn nhau sảng khoái ‘’cười hê… hê’’.
Giấc Nam Kha dứt, chợt giật mình – ‘’Bừng con mắt dậy thấy mình tay không’’, liên hệ với cuộc sống của kiếp nhà văn mà đau, buồn. Thời đó, dân trí của ta qúa thấp, nhiều người mù chữ. Kinh tế qúa nghèo, đói, lấy đâu ra tiền thừa đẻ mua báo, mua sách đọc giải trí, trừ số ít dân trung lưu, dân buôn bán nhỏ ở thành thị. Do vậy nhà văn không thể bán văn chương, thơ phú để lấy tiền sống tạm qua ngày, đói khổ là phải. Cũng may, Mặt trận Bình Dân Pháp lên nắm quyền ở ‘’Mẫu quốc’’ (…), có một số thay đổi trong chính sách cai trị. Chính phủ thực dân ở Đông Dương muốn lấy lòng dân thuộc địa để tô điểm cho khuôn mặt ‘’Bình dân’’ của Sếp mình, hòng ve vuốt giới trí thức bản địa – nguồn gốc của ngòi nổ phản kháng. Họ giảm bớt sức ép cai trị khiến dân chúng dễ thở hơn (…) trong đó có phần nới lỏng kiểm duyệt Văn chương. Mới chỉ có chút ít quyền, được ‘’nói cho Sướng miệng’’thế thôi, mà văn học nghệ thuật thời kì này đã nở rộ, ra đời nhiều tác phẩm gía trị . Còn đời sống của cả xã hội vẫn chưa có gì thay đổi lớn, vẫn đói rách triền miên. Chúng ta nên nhớ: Giới Văn Nghệ Sĩ khi xưa không được nhà nước cho ăn lương, tất cả đều tùy thân vận động’’Tùy nghi di tản’’. Nhân dân cần lao tất nhiên còn bi thảm hơn, vì chịu số phận của kẻ nô lệ: ‘’Một cổ đôi tròng’’, bị ‘’Đè đầu cưỡi cổ’’.
Sau phút ưu tư, trước hòan cảnh bi đát… tác gỉa ghi lại cảm súc đang dâng trào:

Thời thế bây giờ vẫn thấy khó
Nhà văn A Nam khổ như chó
Mỗi lần cầm bút nói văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Và nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm giời: Kiết vẫn kiết!
Mà thương cho tôi, thương cho anh
Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh

Ông trở nên bất đắc chí, đem so sánh cuộc sống của nhà Văn với kiếp sống của Chó – con vật mạt hạng nhất trong số các vật nuôi ở Việt Nam. Hãy bình tĩnh, hãy ghìm mình lại, đừng tự ái khi gã say ví ta với chó! Thật ra đây chỉ là Ngoa dụ mà Nguyễn Vỹ dùng để miêu tả sự khốn khó của người Việt dưới chế độ nô lệ. Quan niệm của cả xã hội: Nhà Văn thưộc tầng lớp ở trên cao mà còn khổ như vậy thì dân đên sẽ như thế nào? Lời ví von có hơi cường điệu, cũng giống như dân gian bảo tay nói phét, lừa đảo là Bán trời không văn tự, thôi! Vả lại, nếu đem kiếp sống khốn khổ của nhà Văn thời đó mà ví với chó gia súc của dân nghèo thì hơi…qúa. Nhưng nếu ví với Chó Berger, Chó Nhật của dân giầu và Chó săn của ông chủ thực dân, thì… cũng chẳng ngoa chút nào!

Thế nhưng – Người Việt có tính hay mẫn cảm: Tuy nghèo, đói nhưng, tính sĩ diện thì hết chê. Lại nữa: Quan niệm, cái nhìn về Chó của người Việt hoàn toàn khác dân văn minh Tây Âu bởi chú Khuyển của dân ta cũng… ‘’khác‘’chú Cẩu của họ. Dù thế nào, đem Nhà văn – đại diện cho một tầng lớp Trí thức – ví với Chó thì thật… qúa xá!

Thi sĩ Tản Đà – nổi danh trên Văn trường Việt Nam từ đầu thế kỷ (Tản Đà sinh năm 1888. Nguyễn Vỹ sinh năm 1910) dù cụ là bậc trưởng thượng nhưng không hề phân biệt tuổi tác, thi tài, vẫn coi NV là bạn văn, thường cùng uống rượu . Khi đọc được bài thơ của ‘’hậu bối bất trị’’ – cụ bất bình, hỏi: Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó, anh không sợ xấu hổ à?
Nguyễn Vỹ mơ mơ màng màng – trả lời tiền bối đáng kính: Ví như vậy thì chó xấu hổ chú chúng ta xấu hổ cái nỗi gì! (5).
Ngay trong lúc mê, say, ông vẫn mơ giấc mơ đầy hoang tưởng:

Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng
Tôi làm Trạng Nguyên, anh Tể Tướng
Và anh bên Võ, tôi bên Văn
Múa bút tung gươm há một phen
…(*)
Theo nhà phê bình Nguyễn Tấn Long viết trong Toàn tập – Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến: bắt đầu từ đây – 14 câu thơ – ‘’Thực dân Pháp không cho Nguyễn Vỹ nói’’ – bị kiểm duyệt cắt bỏ (chắc Hoài Thanh không được đọc):

Cho bõ căm hờn cái xã hội
Mà anh thường kêu, mục, nát, thối
Cho người làm ruộng, kẻ làm công
Đều được an vui, hớn hở lòng?

Bao giờ chúng mình gạch một chữ
Làm cho đảo điên pho lịch sử!
Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa
Hất mồ ngồi dậy cười say sưa
Để xem hai chàng trai quắc thước
Quyét sạch quân thù trên Đất nước?
Để cho toàn thể dân Việt Nam
Đều được tư do muôn muôn năm
Để cho muôn muôn đời dân tộc
Hết đói rét lầm than tang tóc

Rồi tiếp giòng mơ say, ông liên hệ với thực tại – so sánh:

Chứ như bây giờ là trò chơi
Làm báo làm bung, chán mớ đời
Anh đi che tàn một lũ ngốc
Triết lí con Từơu, Văn chương Cóc (6)
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà (7)
Ra chợ bán văn, ngày tháng qua

Đi che Tàn (lọng, Ô) nghĩa là đi hầu.
Anh đi che tàn một lũ ngốc. Còn tôi bưng thúng theo đàn bà ra chợ bán… Văn.
Anh làm Tể tướng, tôi Trạng Nguyên.
Anh bên Võ, Tôi bên văn – Đúng một phần đời hiện thực, trộn với giấc mơ của của tác gỉa lúc căn bệnh Nhân cách phân liệt – trỗi dậy!

– ‘’Con Tườu’’ là thế nào?
– Con Tườu là con Khỉ.
Người Trung Hoa coi con Khỉ, tập trung của cái xấu trước tiên là ngoại hình. Khi ghét người nào đó, họ thường nói câu cửa miệng: Mày hãy soi gương xem cái ‘’tướng Khỉ’’ của mày đi!
Nhưng khó chịu nhất: Khỉ hay bắt chước và không có chút ‘’lịch sự’’ tối thiểu như mọi con vật khác: Khi thấy nhiều người xúm vào xem… Hậu duệ của lão Tôn – Hoa qủa vương – sẵn sàng vạch chỗ kín ra… gãi hoặc nghịch bậy mà lẽ ra theo cách nghĩ của người: Phải kín đáo, dấu tiệt!Con Tườu là vậy. Triết lí con Tườu là thứ triết lí của kẻ hay bắt chước, triết lí đậm ’’Hầu… phẩm’’!
– Còn ‚’’Văn Chương Cóc’’?
– Đó là văn thơ giản lược, sao chép – không phải văn theo kiểu được Viết Sự Kiện – nghĩa là bay bổng! Ẩn dụ này bắt ngưồn từ ý nghĩa của bài thơ Con Cóc:

Con cóc trong hang – Con có nhẩy ra
Con có nhẩy ra – Con cóc ngồi đấy
Con cóc ngồi đấy – Con cóc nhẩy đi!

Qua phút chóang váng, nhà thơ xẹp đi, trở lại hiện trạng cuộc đời rồi tự an ủi mình, an ủi bạn… nhưng chỉ được ít phút, lại nổi xung… lần này tức giận thật sự. Cuối cùng, tỉnh rượu, nhà thơ nhớ lời tiền nhân: ‘’Lập thân tối hạ thị văn chương’’, tự chửi đổng, chửi mình cơ hội, nhiễm nặng tật Thắu cáy học được trong những canh bạc Xì tố. Nhà thơ chắc mẩm đã ‘’chơi nước cờ cao’’ (…) nhưng thực tế, té ra – cuộc Thắu cáy trở nên rất thấp, dẫn đến gặp Bĩ, thua đâm, đâm thất vọng, ngẩn ngẩn, ngơ ngơ…. tự nhận hành động của mình: Điên!

Cho nên tôi buồn không biết mấy
Đời còn nhố nhăng, ta chịu vậy
Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa
Bực chí thành say, mấy cũng vừa
Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ
Chơi nước cờ cao lại gặp bĩ
Rồi đâm ra điên, đâm ngẩn ngơ
Rút cục chỉ còn mộng với mơ!

(Viết trong lúc say – Báo Phụ nữ 193…(?)

Những vần thơ được tác gỉa xử dụng ngôn từ ‘’qúa thật’’ khiến nhà phê bình Hoài Thanh bức xúc, viết trong TNVN – (có phần võ đóan, chủ quan, thiên lệch): ‘’Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng trống, xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ ra xem nhưng lại tưng hửng trở vào…’’. Bất bình vì Nguyễn Vỹ làm ông ‘’…inh cả tai’’ (nhức óc). Hoài Thanh đã nhìn Nguyễn Vỹ bằng con mắt không mấy thiện cảm. Có thể ông không được đọc 14 câu thơ mà kiểm duyết Pháp cắt bỏ. Cũng có thể ông tự ái khi Nguyễn Vỹ ví ‘’Nhà văn… như chó’’ nên trút giận… rồi viết ra những giòng văn kia – chăng?
Trên đời này, con người không thích ai làm họ inh tai, nhất là lại cho họ ‘’cái bạt tai’’ làm họ ù tai, khiến nhức óc. Cái tai do trời ban cho con người, có hình thù đặc biệt: Âm thanh dội vào, được các vành tai tiếp nhận, uốn lượn đưa vào màng nhĩ. Âm thanh càng thẽ thọt, hiệu qủa có lúc – (chứ không phải mọi lúc) – càng cao. Âm thanh làm đinh tai, người nghe không chịu được – có lúc, (chứ không phải mọi lúc) – nhức óc, nổi cắu, thậm chí (phát) Điên. Người đã nổi điên, hành động vô ý thức – sẽ xẩy ra và đối tượng gây họa phải lãnh hậu qủa…

Nhưng, vì nói thẳng, nói thật, Gửi Trương Tửu vẫn có nhiều người thích nghe, thích đọc.
Cho dù được viết đã trên dưới 70 năm, Thi phẩm của Nguyễn Vỹ vẫn có gía trị Nhân văn mang dấu ấn của thời đại.

Thi sĩ Nguyễn Vỹ là điển hình cho một lớp văn nghệ sĩ đương thời bất mãn vì có tâm huyết, có tài năng nhưng không được thi thố với đời để phục vụ nhân sinh. Gửi Trương Tửu đúng là tác phẩm gía trị của giòng văn chương ‘’Hiện Thực Phê Phán’’ – như cách xếp loại truyền thống của giới phê bình Việt Nam – trước đây…

LÊ XUÂN QUANG
15.10 2007

Ghi chú:
(1) – Thơ cũ: Đường luật, lục bát, song thật lục bát – có nhiều quy tắc… Thơ Mới ngược lại, không gò bó như thơ cũ…
(2) – Toàn Tập Thi nhân Tiền Chiến – Việt Nam – cho rằng: Nguyễn Vỹ sinh năm 1912
(3) –Theo TNTCVN Toàn Tập – Nguyễn Tấn Long – nxb Văn Học – 1998.
(4) – Chuyện này in trong Nguyễn Bính – Thơ và Đời, nxb Văn Học 2000
(5) – Thi nhân Việt Nam. NXB Văn học 2002.
(6) – Trương Tửu lúc đó viết cho báo Hữu Ích của Lê Văn Trương. Nguyễn Vỹ viết cho báo Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Thảo.
(7) – Thời Nguyễn Vỹ sống, các Bà, các Cụ Bà, vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng (Nam Định, Thái Bình…) – đi chợ thường đội thúng, khi đến chợ hạ thúng, bưng thúng, bầy hàng bên trên mẹt đậy – bán cho khách…

Nguồn: VCV
———————————————————————————————
Để đúng với tên “Nguyễn Vỹ” trên các sách do chính tác giả in, TNQN chúng tôi xin đổi “Nguyễn Vĩ” thành “Nguyễn Vỹ” trong bài viết trên, rất mong tác giả Lê Xuân Quang lượng thứ cho chúng tôi về điểm sửa này. Vì mục đích thu thập tư liệu về thi sĩ Nguyễn Vỹ, chúng tôi cũng mong tác giả Lê Xuân Quang bỏ qua vì chúng tôi đăng bài ở đây mà chưa xin ý kiến tác giả bài viết. Chúng tôi chân thành cảm ơn! (TNQN)

2 phản hồi to “NGUYỄN VỸ: Say… Viết – ‘’GỬI TRƯƠNG TỬU’’”

  1. tnqn said

    Chào anh Uyên!

    Rất vui khi anh đã tình cờ ghé trang này. Hiện tại chúng tôi chưa có cuốn “Non nước Xứ Quảng” của Phạm Trung Việt, nhưng chúng tôi sẽ có nó một ngày gần đây. Không dám nói trước, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng đưa một số tư liệu trong cuốn đó vào đây. Việc làm cái ebook thì hay rồi đó, nhưng cũng chưa biết tới khi nào, vì phải đánh máy nữa. Lúc nào có chúng tôi báo cho anh hay.

    Chúng tôi làm trang này để sưu tập toàn bộ thơ ca QNgãi vào đây, hy vọng nhận được bài vở đóng góp của anh Uyên.

    Quý mến và chân thành cảm ơn anh.

    Thân mến!

    TNQN_Admin

  2. Uyen said

    Chào các bạn,.

    Tôi đang dạo mấy vòng trên mạng thì bắt gặp site của các bạn,.Thật đáng tự hào,.Cho phép tôi tự giới thiêụ: Tôi tên Nguyễn Đức Uyên (1957)sinh ra và lớn lên ở thị xã Cẩm thành,bây giờ là TP.Quảng Ngãi.Hiện nay tôi đang sinh sống tại Sài Gòn.trước 1975 tôi học trường Trung học Kỹ thuật ( áo xanh)Quảng ngãi,sau 1975 thì tôi bỏ học dang dỡ lớp 12 tại trường Trần Quốc Tuấn.
    Tôi chuă có thời gian đọc hết từng folder của trang ưeb,neen không biết là đã giới thiệu về quyển sách Non nước xứ Quảng chưa,theo tôi thì nên post lên dưới dạng file Ebook để mọi người có thể tải về và đọc offline..
    Tôi hy vọng là mình có thể đóng góp bài vở cùng các bạn trong thời gian gần đây..
    Kính chúc các bạn sức khoẻ và nhiều may mắn.
    Thân ái.
    Uyên Đ.Nguyễn.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: