Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 512 772 Lượt

Chàng thi sĩ học trò ngày ấy

Posted by thinhanquangngai1 trên 11/07/2008

Chàng thi sĩ học trò ngày ấy
(Đọc tập thơ Tình học trò của Lý Văn Hiền, Nxb Đà Nẵng, 2007)
MAI BÁ ẤN

Tôi – Quảng Nam, Lý Văn Hiền – Quảng Ngãi. Và vì thế, thuở ấy, tôi chưa hề biết đến chàng thi sĩ học trò họ Lý. Tuổi học trò chúng tôi ngày ấy là tuổi học trò của những chàng trai học, sống và suy tư giữa cái thời miền Nam trong chế độ cũ. Đó là những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tuổi học trò trôi trong đạn bom… Song, cho dù cuộc sống có khắc nghiệt đến đâu thì cái nội tại hồn nhiên, vô tư, mơ mộng của thời cắp sách vẫn có những nét chung đáng yêu của nó. Duy có điều này, có điều này là khác. Đó là: hình như cái suy tư của tuổi học trò ngày ấy lãng mạn hơn và cũng già dặn hơn nhiều. Lãng mạn hơn bởi cái thực tại chết chóc, đau thương của chiến tranh ám ảnh khiến hồn thơ khao khát bay lên. Già dặn hơn bởi những suy tư trăn trở trước thời cuộc chiến tranh, chia cắt. Lứa tuổi phổ thông ngày ấy cũng lớn hơn bây giờ ít nhất là 2 tuổi. Suy nghĩ đã lớn nhưng tuổi khai sinh phải lùi, vì sợ đủ tuổi công dân, chưa tốt nghiệp Tú tài đã bị bắt đi “quân dịch”. Chính vì thế, màu hoa phượng của mùa Hè những tháng năm xưa cũng “rướm máu” hơn nhiều. Bây giờ, thơ học trò thường ví màu đỏ của phượng là ngọn lửa nhiệt tình của tuổi trẻ. Nhưng thời ấy, dưới chế độ cũ, mỗi Hè chia tay là mỗi một mùa đau đớn, bởi đa số phải bị sung vào “lính đánh thuê”. Cái tiền đồ chết chóc hiển hiện ra mồn một trong đầu. Phượng khóc và tâm hồn trẻ thơ rướm máu.

            Có lẽ như thế chăng mà cái “Tình học trò” trong thơ Lý Văn Hiền ngày ấy già dặn hơn, ít vô tư hơn và cũng lãng đãng hơn nhiều!

            Bây giờ, tái bản tập thơ cũ của thời đã qua, cả tôi, cả Hiền, cả bạn bè đều có chung một tâm trạng ái ngại. Không biết tiếng lòng xưa cũ rơi rớt giữa cuộc sống của tuổi học trò hôm nay có còn nguyên được sự cảm nhận như xưa? Chắc hẳn là không vì mỗi thời có mỗi không khí thơ riêng của nó. Nhưng thôi, dù sao đây cũng là vốn liếng lòng mình của một thời trai trẻ. Bây giờ, tuổi học trò đã đi qua, mỗi đứa đã già, có muốn viết lại những vần thơ nông nổi ngày xưa cũng chẳng thể nào viết nỗi.
 
            Điều đặc biệt là tôi đã gặp những vần thơ cũ này của Lý Văn Hiền vào những năm sau ngày miền Nam giải phóng. Năm 1978, tôi rời phổ thông vào Đại học Sư phạm Quy Nhơn. Vốn là một học sinh mê thơ và đã từng tập tành thơ phú, được trở thành sinh viên Văn khoa, đam mê thơ trong tôi càng có dịp bùng lên. Và Hiền đến với tôi bằng chính tập thơ nhỏ cu cũ, xinh xinh trên đôi tay những nàng sinh viên Văn khoa đến từ Quảng Ngãi. Họ biết tôi làm thơ, mê thơ, và họ sẻ chia. Tôi cầm tập thơ Hiền trong cái không khí thơ ca hừng hực lửa cách mạng những năm đầu giải phóng. Vậy mà rồi, cũng không hiểu sao, thơ của Hiền cứ đi vào tôi một cách tự nhiên chẳng đợi thầy nhắc học. Và thú thật, ngày ấy, đọc thơ Hiền, cái hình bóng tác giả ẩn sau những vần thơ, theo tưởng tượng của tôi cũng chẳng khác mấy so với cái ngày tôi giáp mặt Hiền ở Quảng Ngãi. Một chút lãng đãng, bụi bặm, phong trần. Nhưng hình như lúc gặp nhau, cái chất chiến trường K của chàng bộ đội tình nguyện này đã pha thêm vào Hiền chút cứng rắn phong sương của lính. Vâng ! Hiền đó! Chẳng khác mấy so với hình bóng chàng thi sĩ trong thơ.

            Bây giờ, mời các bạn cùng tôi dạo bước đến thăm khu vườn thơ Lý Văn Hiền ngày cũ.

            1. Có một chút ngây thơ vụng dại        

            Cảm nhận đầu tiên có lẽ là những thoáng chốc ngu ngơ để lời chạy tuột theo ý tạo nên sự vụng dại dễ thương của tuổi học trò:

“Chiều hôm qua bỏ trường lên xem
Gửi ngôn từ cho gió nói thương thương” (Mở)

            Cái từ “lên xem” ngô nghê, tối nghĩa ấy giờ bảo chữa lại để thay vào từ khác, té ra cũng thiệt khó khăn. Tôi và Hiền đã thử thay “đi theo bé”, “theo chân bé”, “theo sau bé”… nhưng rồi vẫn thấy không yên lòng. Đành giữ im cho bài thơ trọn vẹn của Hiền ngày cũ. Mông lung. Ngồ ngộ. Thương thương.

            Trong bản in lần tái bản này, Hiền có sửa chữa đôi từ, tất nhiên đó là những đoạn thơ tôi đã thuộc làu từ dạo ấy. Hiền chữa lại theo tư cách tác giả, còn tôi lại nuối tiếc muốn giữ nguyên với tư cách người thuộc thơ. Nó đã vậy, đã cố định trong tình cảm mình rồi, sửa lại, hình như nghe hơi mất chút tự nhiên.

Ví dụ:
“Buồn quá! ta ngồi trông cửa lớp
Hôm nay sao bé chả đến trường
Ghế bàn nói khẽ: ồ, nhớ quá
Ta lắng nghe lòng thốt ngàn thương (Vắng)

            Ba từ cuối được Hiền chữa thành “chiếc lá vương”. Ngẫm ra cái từ “thốt” đi sau từ “nói khẽ” ở câu trên nghe hợp hơn với lôgic thơ, tự nhiên hơn và ý tưởng rõ hơn nhiều.

            Và khổ thơ này nữa:
“Môn sử địa thầy kêu ta ngồi chép
Suốt hai giờ, nhìn vở: kín tên em
Những sách học xé biên thư tình hết
Thế mà sao ta cũng vẫn thấy thèm” (Nhớ lạ)

            Không biết do Hiền chữa chữ “hết” thành chữ “cả” hay do tôi thuộc nhầm, nhưng theo tôi, từ “hết” đi cùng từ “chép” ở câu 1, từ “kín” ở câu 2 làm thành kết cấu “chép – kín – hết” hợp lý hơn nhiều so với từ “cả”, và vần gieo cũng chặt chẽ hơn: “chép” – “hết”…

            2. Một lãng đãng không khí tình si
 
            Tập thơ với nhan đề “Tình học trò” đã thể hiện rõ ý tưởng và nội dung toàn tập. Cũng là tình học trò đó, nhưng như trên tôi đã nói, tình học trò thời ấy nó già dặn hơn và lãng đãng hơn nhiều. Đó chính là cái không khí si tình hiển hiện trong suốt tập thơ. Cái không khí “hơi tiêu cực” ấy trong tình cảm học trò có lẽ là điều lạ nhất làm nên cái hay, cái độc đáo của tập thơ này so với các tập thơ học trò thời mới. Vâng, không khí tình si, mà lại si tình đến mức quên học, bỏ học… dễ đưa ta đến cảm giác “không nên”. Tuy nhiên, xét ở góc độ ái tình thì tình yêu đầu đời nó thiêng liêng và si mê lắm. Nếu ta sợ si tình là tiêu cực nên không dám nói trong thơ thì thật ra cũng chưa đúng nghĩa của tình yêu. Đã yêu thì yêu đến tận cùng con tim và tuyệt cùng suy nghĩ. Tôi không biết thời ấy chàng học trò họ Lý đã biết yêu và có yêu thực vậy không, nhưng qua thơ, ta cảm nhận rất rõ không khí tình si kia là có thật. Có lẽ chính điều này đã chinh phục được đông đảo bạn đọc tuổi học trò phổ thông Quảng Ngãi thời ấy. Nếu không thì làm sao khi bước vào tuổi sinh viên, các nàng vẫn “ẳm theo” bên cạnh mớ hành lý của mình tập thơ của Lý Văn Hiền để “dụ khị” tôi cùng đọc. Cái độc đáo của “Tình học trò” Lý Văn Hiền chính là chỗ đó. Anh dám lột tả đúng tâm trạng yêu mặc dù bản thân anh chưa chắc đã yêu và đã si tình. Và các chàng trai, cô gái học trò yêu thơ Hiền ngày ấy cũng chưa hẳn đã biết yêu và biết si tình. Vâng, trong đời có những sự thật vô cùng khó nói. Không đủ bản lĩnh nói ra nhưng trong cảm nhận thì ai cũng thấy rằng đó là chân lý. Mà chân lý của tình yêu, nhất là tình học trò là một loại chân lý tự nhiên. Tôi có cảm giác cái loại Tình – Si – Học – Trò trong tập thơ này là một loại si tình ảo, một kiểu si tình vô hại. Đó thực chất mới chỉ là nỗi si mê của tuổi thơ vụng dại. Điều này thể hiện rõ trong thống kê độ lặp thi pháp ở tập thơ. Chàng trai cảm nhận mình đã tương tư khi chỉ mới vừa biết tên cô bé. Mới có biết tên, chưa được yêu đã vội “tương tư“, đã vội “lạnh tâm hồn”, đã “nhớ suốt đêm dài” thì đúng là một tương tư ảo. Chàng trai đã vội “tan nát hồn” khi cô gái chỉ mới vừa “quay gót”. Các từ, cụm từ “tâm hồn”,”xoáy tâm hồn”, “hồn chết”,”hồn điếng”… “gót chân”, “bước chân”, “tiếng guốc”, “quay lưng” được nhà thơ lặp đi lặp lại và tần suất xuất hiện khá bàng bạc trong tập thơ đã minh chứng điều ấy:

-“Tên cô bé ta biết rồi đấy nhé
Về tương tư nên buồn mấy hôm nay
Đôi mắt bé ta thấy hồn len nhẹ
Lạnh tâm tư gợi nhớ suốt đêm ngày” (Ngôi từ nhỏ)

-“Bé không biết nên quay mình vô lớp
Ta nhìn theo hồn chết ở cổng trường” (Mở)

– “Guốc gỗ trưa về khe khẽ nhịp
Ta nghe xao động xoáy tâm hồn
Ngày xưa em cùng thường mang guốc
Đường nhựa tan trường chân sáo non” (Ngày xưa)

             Rồi thì“rưng rức bước chân“, “guốc cô vào lớp”, “chân chim của bé”, “buồn quay quắt“, “dường in những đoản  sầu(Vắng), Tâm hồn lãng đãng”, “Lụa vàng cuốn gót chân đi” (Lụa vàng); “nhớ trọn cả tâm hồn“, “bước nhẹ giữa hoàng hôn”, “Ngồi trong lớp mà hồn luôn xao nhãng(Nhớ lạ); hồn anh rêu phủ(Hò hẹn), bước chân quen”, “bàn chân vụng dại”, “Từng hoa máu xé lòng tươm đỏ thắm”, “chút hồn mơ(Phượng vĩ); Giam hồn ta”, “hồn chết ở cổng trường” (Ngôi tù nhỏ); “Tình reo theo nhịp guốc(Tình học trò); Con tim anh héo hắt mất em ơi”, “hồn anh buồn lây lất(Xa); “Gió chiều vương nhẹ chân chim nhỏ”, “bước… lạc lối về” (Vái trời); “Vì có gót chân em”, “đã cướp hồn ta rồi”, “về buốt lòng đau thương”, “nhuộm màu đau dang dở” (Sợi nhớ); hồn tôi chết điếng“, “chân em không còn ghé thăm” (Vòng hoa cho chuyện tình)…

Và có thể dễ dàng khái quát cái lãng đãng tình si của chàng thi sĩ học trò này:

“Nhớ xưa ôm sách cuồng ngông
Trốn thầy bỏ học lên rong trường người” (Khi trở lại trường)

            hay:    “Bé có bao giờ thương không nhỉ
                         Những ngày ta bỏ học đi hoang
                         Bé có bao giờ yêu mộng mị
                        Như những đêm trường ta lang thang (Vắng) 

            Chỉ đau theo nhịp guốc, gót chân, cái quay lưng hờ hững thì đúng là cái tương tư kia, cái tình si kia cũng chỉ dừng lại ở cái sự mơ màng ảo tưởng mông lung của tuổi học trò. 

            3. Và một không gian phố thị

            Không gian nghệ thuật trong văn học là một thuật ngữ mới của Thi pháp học hiện đại. Đó là cái không gian “nghệ thuật mang tính nội dung”. Nghĩa là một không gian ám ảnh, chi phối đến toàn bộ cảm xúc của tác giả và hiển hiện mơ hồ nhằm thể hiện nội dung thơ. Điều dễ nhận ra trong “Tình học trò” của Lý Văn Hiền là không gian nghệ thuật ấy khá nhất quán trong toàn tập. Đó chính là không gian phố thị. Vâng, một phố thị nhỏ hiện lên rất rõ và làm nên tính độc đáo, riêng biệt của tập thơ Lý Văn Hiền so với những tập thơ học trò khác. Xưa nay, đọc thơ học trò, ta gặp đa phần là những ngôi trường làng của không gian nông thôn. Chính vì vậy trong không gian nghệ thuật ấy, tâm tư, tình cảm của lứa tuổi học trò cũng trong sáng hơn, hồn nhiên hơn, và nói đúng hơn là “hiền hơn”, “thuần hơn”. Riêng cái không gian phố thị quán xuyến suốt “Tình học trò” của Lý Văn Hiền đã khiến cho cái lãng đãng tình si, cái suy tư già dặn được bộc lộ một cách tự nhiên. Và có lẽ những suy tư, tình cảm nhuốm không khí tình si này cũng chỉ có thể bộc lộ trong không gian nghệ thuật ấy. Con trai nhà quê nhát gan hơn, rụt rè hơn, suy nghĩ cũng mộc mạc hơn nên tâm trạng ấy chỉ có thể hiện rõ lên ở không gian trường làng bên gốc đa, bến nước. Chàng họ Lý gốc nông dân nhưng những mơ mộng đầu đời lại gắn liền với tà áo dài phấp phới của nữ sinh Trung học thướt tha cùng nhịp guốc gõ trên đường nhựa. Vì thế, cái không gian chứa đựng những bóng hình thơ và chứa đựng cảm xúc nhà thơ khoanh tròn trong một phố thị nghèo. Đọc thơ Hiền cái bóng hình thị xã Quảng Ngãi hiện lên rất rõ. Có muốn bứt phá ra ngoài cũng không bứt phá nổi. Chỉ gói gọn từ bờ Bắc sông Trà với một liên tưởng về nơi quê quán:

            “Em ở bên này sông Thạch Bích
             Còn ta Sơn Tịnh cách cây cầu
             Mỗi ngày hai bận em đi học
             Ta cũng chuyên cần để gặp nhau” (Để ý)

            Mở hồn về phương Nam cũng chỉ xa nhất là chút “nhớ ngày xưa” về những lần đi thăm chơi Đội Cấm Ông Nghè nơi thị tứ Sông Vệ:

            “Và ngôi trường nép mình ven thị tứ
             Vẫn nhói tim nhớ đội Cấm Ông Nghè” (Nhớ ngày xưa)

            Về phương Đông chỉ vừa đặt chân đến thị tứ Thu Xà lòng cũng “loanh quanh” gửi hồn về phố thị:

            “Sáng nay đi xuống Thu Xà
            Bỗng dưng nhớ kẻ Ba Gia lạ thường
            Trưa về qua bến Tam Thương
            Thấy yêu cô mặc áo hường cài trâm
            Chiều buồn đứng ở Ngã Năm
            Nhiều con gái quá!
            Tối nằm không yên”  (Loanh quanh)

            Như vậy, dẫu có vượt ra khỏi thị xã Quảng Ngãi thì không gian nghệ thuật Hiền gửi gắm tâm tư cũng là những thị tứ (Sông Vệ, Thu Xà). Tuyệt nhiên không thấy bóng dáng làng quê đâu cả.

            Lẽ ra không gian phải có bốn phương, nhưng trong thơ Hiền ta không tìm thấy phương Tây đâu hết. Vì phương ấy, thời ấy không có một thị tứ nào, thoát ra khỏi thị xã đã là những vùng quê, những vùng quê “mất an ninh”.

            Trong cái không gian phố thị ấy, những cô bé học trò hiện lên trong thơ cũng mang một dáng dấp riêng:

            – “Lụa vàng cuốn gót chân đi
             Ta nhìn ngoài cổng nghe mi cay buồn” (Lụa vàng)

            – “Em ta ơi tuổi còn ngoan áo lụa” (Hò hẹn)

            – “Em tan trường nhẹ bước giữa hoàng hôn”
            “Em tan trường chắc lắm kẻ đưa theo” (Nhớ lạ)…

            Vâng, dáng dấp ấy chỉ có thể xuất hiện nhẹ nhàng giữa không gian phố thị, không thể xuất hiện dưới bóng tre đường làng, hoặc những ngôi trường làng dân dã. Trong không gian ấy, hình ảnh những cô nữ sinh cũng có vẻ liêu trai, mơ mộng hơn:

            “Hàng khuynh diệp đứng ngủ thầm
             Lá xanh nhuộm úa nghe căm căm buồn
            …Xưa kia cỏ in dấu nàng
            Dáng liêu trai đổ nhẹ nhàng cuối sân” (Khi trở lại trường)…
 

*
* *

            Bây giờ thì chàng họ Lý đã ngót nghét 50, đã xế bóng chiều rồi. Và chàng vẫn ngồi yên đó với thơ, vẫn trụ được với thơ qua bao chuyển xoay thời cuộc. Thơ Hiền giờ đã già dặn hơn, triết lý hơn lên theo tuổi. Song cái hồn si mê, một chút đam mê phù du và cái phong cách phóng túng, cái lãng đãng suy tư pha một chút cuồng ngông thì vẫn vậy.

            50 tuổi, đã gần trọn một đời thơ. Mà trong đời người thơ, cả sự nghiệp mình có được đôi ba bài, đôi ba câu trụ lại được giữa lòng bạn đọc theo dòng chảy thời gian cũng là điều bao nhà thơ ao ước.

            Cám ơn những phút tương tư và cái không khí tình si học trò thơ mộng mà chàng học sinh Lý Văn Hiền mới mười tám, đôi mươi thuở ấy đã mang đến cho thơ, đến gỏ cửa tim người và trụ lại được nơi tận cùng sâu thẳm ấy./. 

Quảng Ngãi, đầu đông 2006
M.B.A

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: