Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 513 992 Lượt

Nguyễn Ngọc Hưng- “Đáy lòng luôn vọng tiếng xanh xưa”

Posted by thinhanquangngai1 trên 01/12/2009

Nguyễn Ngọc Hưng – “Đáy lòng luôn vọng tiếng xanh xưa”
(Đọc tập thơ Những khúc ca trên cỏ của Nguyễn Ngọc Hưng)
. mai bá ấn 

          Vì đã viết về Hưng khá nhiều, sợ vội vàng sẽ lặp lại những điều đã nói, nên lần này tôi cố cẩn trọng, đọc đi đọc lại thật nhiều lần tập thơ thứ 10 này của Hưng với hi vọng tìm ra một điều gì đó. Tất nhiên “điều gì đó” không phải bây giờ mới có mà vẫn luôn định hình trong phong cách thơ Hưng.

          Cảm nhận đầu tiên khi đọc Những khúc ca trên cỏ, cũng là nét khác nhau cơ bản của tập thơ này so với 9 tập thơ trước, chính là chất tinh nghịch (vốn tạo nên nét riêng của chàng nhà thơ bất hạnh này) đã lắng xuống và chất triết lý nổi hơn lên. Nói thơ Hưng triết lý thì hoàn toàn không đúng vì chủ đề Hưng đề cập xưa nay vốn là những chuyện rất giản dị, bình thường. Nhưng nằm ngẫm cả 10 tập thơ Hưng (trong đó có đến 5 tập thơ thiếu nhi), thì rõ ràng, ở đây, đã xuất hiện một số bài, một số đoạn “bén hơi” triết lý: “Chẳng có gì chẳng có gì chẳng có/ Trong hư vô ngoài cõi cũng hư vô/ Tôi thấy tôi chập chờn bên quán gió/ Ngồi nhâm nhi những khái niệm mơ hồ” (Hành trình).

Bắt đầu “ngồi nhâm nhi khái niệm” ở cái tuổi ngoài 50 âu cũng là điều diễm phúc đối với một con người mà một nửa thời gian (lại là nửa sau) của cái tuổi 50 ấy bị bạo bệnh đè bẹp tấm thân một chỗ chẳng thể một lần lê chân đi giao tiếp với đời.

Chính cái sự “trẻ lâu” này, cái “hồn thơ trong suốt” này mà đến bây giờ ta vẫn còn nguyên một…

1. Nguyễn Ngọc Hưng – “chưa bao giờ con mắt cỏ quên xanh”

Điều mà ai đọc thơ Nguyễn Ngọc Hưng cũng dễ nhận ra được để rồi trân trọng, mến yêu và kính phục, đó chính là: bất kỳ hoàn cảnh bản thân và gia đình có éo le đến mức nào, Hưng vẫn giữ nguyên sự tươi rói ánh nhìn với sự vật chung quanh và với cả những sự đời chua chát. Những kỷ niệm về quê hương, gia đình, tuổi thơ… qua mắt lọc của thơ Hưng tất cả đều sáng bừng lên sức sống, niềm tin yêu. Nhắc đến rau khoai lang là nhắc đến một ám ảnh khôn nguôi trong quãng đời bệnh tật của Hưng lúc mẹ con anh trên bước đường tìm thầy trị bệnh phải vật vưỡng sống nhờ một người người phụ nữ buôn ve chai nghèo khó mà giàu lòng nhân ái. Một lần Hưng kể tôi nghe chuyện này: Bữa cơm của gia đình hôm nào cũng chỉ toàn rau khoai hái ở vườn nhà. Ăn hết đọt xanh, túng quá phải hái tới lá già và… thậm chí nhiều bữa lẫn lộn cả lá khoai vàng úa. Kể lại mà thương, mà ứa nước mắt, mà thầm cảm phục người phụ nữ nghèo vừa buôn ve chai để nuôi con và nuôi cả mẹ con một người lạ xa, bệnh tật. Vậy mà khi nghĩ về mẹ, về quá khứ, rau lang trong thơ Hưng chỉ hiện lên là “đọt lang” xanh mơn mởn. Hưng viết cho mẹ mình đây ư ? Đúng, nhưng không chỉ có thế, dường như Hưng hòa vào tâm trạng mẹ mình để vít lưng câu thơ cúi xuống tạ ơn với “người mẹ không sinh” đã bảo bọc mẹ con anh những tháng năm cơ khổ: “Mẹ ơi trong ngọn rau vườn/ Chừng như có cả yêu thương cuộc đời” (Đọt lang). Một “ngọn rau vườn” mà chứa “cả yêu thương cuộc đời” thì thơ đâu chỉ dành riêng cho mẹ!

Xanh tươi hơn vẫn là ánh nhìn trong veo về những rung cảm đầu đời vụng dại của tuổi học trò. Nó như một kho tàng “bí mật” mà Hưng thầm ấp ủ trong lòng để rồi những lúc nằm một chỗ trên giường bệnh nghe mưa, nó sống lại làm “day dứt”, làm “nhói đau”, nhưng lại là một nỗi đau cứu rỗi để mãi một đời Hưng cứ “lẩn thẩn cầu mưa”: “Bí mật này theo suốt tuổi học sinh/ Tận bây giờ vẫn chưa thôi day dứt/ Hễ động mưa là nhói đau lồng ngực/ Mưa không về lại lẩn thẩn cầu mưa” (Cơn mưa bất chợt). Rồi “cổ tích” yêu xưa lại “nhập hồn” để “cuống quýt” bước chân tuổi thơ, “cuống quýt” níu lại cả một thời học trò trong veo mộng mơ du hồn theo tiếng “trống trường tan học”: “Thế là em đã nhập hồn tôi đấy/ Dù dấu yêu xưa cổ tích lâu rồi/ Thoảng đâu đó tiếng trống trường tan học/ Lại nghe lòng cuống quýt gọi… xa xôi” (Gọi dấu yêu).

Nhìn thể xác tàn tạ, bẹp dí của Hưng trên chiếc giường “đặc chủng”, rồi nhẩm đọc những câu thơ này, nhiều lần tôi ứa nước mắt thầm vì thương, vì phục, vì sự trong sáng hồn nhiên của Hưng: “Em còn em thuở con mắt biết cười/ Môi tố nữ vin trăng rằm dối mẹ/ Nát cỏ chân đê sương đầm vai trẻ/ Nhớn nhác sao trời nhu nhú ngực non” (Bóng nhớ). Tôi càng hiểu rõ hơn rằng, chính những câu thơ Hưng trút ra như vậy khiến căn bệnh nan y cũng trút ra khỏi thể xác Hưng để Hưng vẫn sống, sống vui và… đem cả niềm tin yêu đến với mọi con người. Lấy thơ mình làm phương thuốc trị bệnh cho chính mình, Hưng mới sống đến được giờ này và sống với đủ tư cách “một con người có ích”: “Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời/ Mỗi số phận chứa một phần lịch sử” (Eptussenco). Với Hưng, một người bệnh tràn đầy nghị lực, bản lĩnh; một người thơ tràn đầy nhân cách, tôi hiểu, Hưng không bao giờ muốn những câu thơ trở thành độc dược giết chết chính mình, vì thế thơ Hưng ngợp xanh sắc cỏ (Ám ảnh cỏ trong thơ Hưng, có lẽ tôi sẽ phải bàn vào một dịp khác để người đọc nhận rõ hơn).

Đành rằng trong thơ Hưng có những câu thơ đau khi tái hiện một thời quá khứ. Quá khứ đẹp quá, nhiều mơ ước quá, trong trẻo, hồn nhiên quá (“trong như lọc”); khiến mỗi lần nghĩ về nó là mỗi lần người thơ bất hạnh của chúng ta buồn, nhớ, nghẹn ngào: “Dòng nước vẫn trong như lọc/ Chỉ mình tôi đục mắt buồn/ Ngô đồng nhớ ai vương tóc/ Nghẹn bờ sông trắng sương buông” (Cháo lú cho ai).

Đến đoạn thơ lục bát này thì rõ ràng chất tài hoa, sức sáng tạo của Hưng khiến ai cũng phải nao lòng như chính Hưng nói hộ lòng tất cả chúng ta: “Ngang qua ngõ hạnh một thời/ Ngã nghiêng vấp tiếng ạ ời nhói đau/ Đã hờ hững mắt dao cau/ Sao còn cắt cứa lòng nhau thế này?” (Tháng tám về quê). Rồi dù gì thì gì, quá khứ vọng lại trong thơ Hưng vẫn là tiếng ru xanh làm êm dịu cả con tim: “Con nước xa nguồn con nước chảy xuôi/ Đôi mình xa nhau dạt trôi mấy ngả/ Bao chìm nổi trong biển đời vật vã/ Vẫn dịu êm tim vỗ sóng ru người” (Đêm trăng Trà Khúc). Mới hiểu chính cái nỗi nhớ trong-veo-đến-cả-nỗi-đau kia đã đồng vọng làm tươi-xanh-cả-một-màu-quá-khứ: “Làm sao thoát ra ngoài nỗi nhớ/ Khi đáy lòng luôn vọng tiếng xanh xưa?” (Phỉ thúy).

 2. Nguyễn Ngọc Hưng – “day phía nào cũng bóng ngã trăng xiêu”

Cô đơn! Cô đơn! Ai đó nói rằng: Cô đơn là cội nguồn của sáng tạo thì Hưng cô đơn đúng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng: “Mẹ về thăm thẳm nguồn xa/ Cha đi khuất núi… Con và bóng con” (Hóa vàng). Câu lục bát lạ lùng chưa? Vừa có dư vị của ca dao “núi Thái”, “sông Nguồn” (hoặc “nước trong nguồn”) về công cha nghĩa mẹ, lại hiện đại đến ngỡ ngàng trong nhịp đi thất thểu, bơ vơ, mình với bóng mình của tiết tấu đoạn lìa. Bi kịch, bất hạnh, tâm trạng của cả một gia đình chỉ dồn về trong một câu lục bát. Cái sức chứa của thể thơ truyền thống này đối với bộn bề cuộc sống hiện đại khiến ta vững tin: thơ hay chẳng bao giờ là cũ cho dù đó là một thể thơ “đặc sản” Việt Nam.

Cô độc, bơ vơ lại phải “bất lực” nằm co ro một chỗ, Hưng cảm nỗi đau mình chân thật đến xót xa: “Thương nỗi lá vàng rơi vội/ Xót mầm chưa kịp nẩy xanh/ Tật nguyền cô đơn bất lực/ Con như cây thu trơ cành” (Thắp hương).

Vậy mà rồi trong bất hạnh của chính mình, Hưng lại cảm thấy mình còn diễm phúc hơn nhiều so với cả một đời mẹ nhẫn nhục hi sinh: “Bằng hữu giúp con đôi phần an lạc/ Thương mẹ đồi cao gió hú lạnh lùng/ Lăn qua đụng dông lăn lại bão bùng/ Chăn nệm ấm mà sao không ngủ được/ Nỗi nhớ mẹ mang cả thiên hà nước/ Lênh láng vui buồn trút xuống tim con” (Đêm mưa nhớ mẹ). Câu thơ thứ ba trên đây, bạn thử đọc lại cùng tôi mới thấu hết sự cô đơn của người thơ bất hạnh. Có lúc người thơ đang mê mải du hồn, bỗng bị “ngắt ngang” để đột ngột nhận ra sự hững hờ phía người và tự thấy: ngỡ là hai mà chỉ còn “Lẻ một”. Đời đang xanh sự sống mặt trời bỗng chuyển sang vàng úa ánh trăng, câu thơ đọc lên cứ buồn đến ngác ngơ thân phận: “Nghìn cổ tích say sưa nghe tôi kể/ Đến chuyện cuối cùng em bỗng ngắt ngang/ Đành lặng lẽ như ngàn năm lẻ một/ Mặt trời xanh đổ bóng xuống trăng vàng” (Lẻ một). Đôi lúc muốn hòa nhập với cuộc đời, muốn về ẩn mình trong “bóng mẹ, bóng quê”, nhưng số phận nghiệt ngã đã khiến người thơ bơ vơ giữa những ngả đời bất hạnh: “Bạn có tin mười cây số không hơn/ Mà vẫn nợ mắt giếng buồn đau đáu/ Số phận vòng vèo ngả năm ngả sáu/ Chẳng làm sao chạm rêu xám cổng làng” (Bóng mẹ bóng quê). Có đôi lúc người thơ tự “gồng mình” như ra lệnh: “cắt”! Cắt để tự nhói đau chính cõi lòng mình, nhưng đó là ý nguyện cần phải làm, và vì vậy, nên nỗi đau của người thơ trong suốt đến bao dung: “Cắt thôi, thà một lần đau/ Dằng dai mãi chỉ thêm nhàu chéo khăn/ Bu nhau nắng nhọc mưa nhằn/ Chẳng thà rơi cánh sao băng giữa trời” (Tự khúc). Có lẽ nỗi cô đơn lớn nhất trong Hưng vẫn là cô đơn của nỗi đau mất mẹ. Câu lục bát cơ chừng nghẹn lại và buốt tê với tiếng gió thở não nề: “Mái đình vẫn mái đình cong/ Còn đâu dáng mẹ lưng còng hôm mai/ Bờ tre nghẹn gió thở dài/ Rắc vô vàn mảnh trăng phai tiễn người” (Lục bát cuối mùa).

Tự nhiên vẫn chuyển vần theo quy luật của tự nhiên, cuộc sống vẫn lao đi bộn bề về phía trước, con người vẫn tất bật với bao chuyện hằng ngày, còn Hưng thì cô đơn nằm đó. Muốn xoay trở, vùng lên, thoát ra, nhưng đành bất lực: “Day phía nào cũng bóng ngã trăng xiêu”. Thôi đành… trải lòng lên những trang thơ để mà xót, mà đau và cũng là để mà vui, mà sống: “Gió vẫn thổi. Vườn vẫn xanh. Côi cút/ Chim vịt kêu khản giọng lý chiều chiều/ Ngơ ngác ngõ sau nghẹn ngào sân trước/ Day phía nào cũng bóng ngã trăng xiêu!” (Chim vịt kêu chiều).

 3. Nguyễn Ngọc Hưng – “sợ chi bão khi lòng ăm ắp bão”

Hãy để ý, trừ những tập thơ thiếu nhi, trong mỗi tập thơ của Hưng đều có sự xuất hiện của những bài thơ rất lạ về một chủ đề rất quen: Bão lòng! Bão lòng ở đây không phải là chuyện tình yêu. Tôi muốn nói đến cái cơn bão dữ dội, âm ỉ dằn xé trong đời sống sinh lý mỗi con người. Đọc những bài thơ này, ta thật sự nhận ra sự vượt thoát giới hạn của thơ Hưng. Chính sự vượt thoát về nội dung khiến những bài thơ này vượt ra ngoài thi pháp đậm chất thơ truyền thống của Hưng:“Duy có em/ Với khuôn mặt dịu dàng/ Và những ngón tay bạo liệt/ Đã nhân danh nhiệt cuồng tha thiết/ Vò nát tôi ra…/ Em là nước mát trong hay buốt lạnh/ Em lửa trần sưởi ấm, đốt thiêu?/ Trong vòng tay tam muội hỏa tình yêu/ Tôi thơm phức, rộp phồng như được nướng/ Hạnh phúc tột cùng/ Đớn đau vô tưởng/ Đến tàn tro vẫn ngun ngún/ Vọng về…” (Tam muội hỏa).

Chúng ta dễ dàng nhận ra sự dằn xé trong tâm trạng người thơ qua các đối lập: “khuôn mặt dịu dàng” – “ngón tay bạo liệt”, “tha thiết” – “vò nát”, “mát trong” – “buốt lạnh”, “sưởi ấm” – “đốt thiêu”, “vòng tay tình yêu” – “tam muội hỏa tình yêu”, “thơm phức” – “rộp phồng”, ‘hạnh phúc tột cùng” – “đớn đau vô tưởng”, “tàn tro” – “ngun ngún vọng về”. Đưa được những cặp đối lập dữ dội này vào thơ chỉ có thể là sản phẩm của một hồn thơ bão động. Bão động đến tơi bời. Đúng, chàng nằm đó mà hồn thơ đang “gió giật”, “sóng day”. Chàng quằn quại đau, quằn quại chịu đựng bên cạnh quằn quại yêu, quằn quại sống, rạo rực khát khao và quằn quại thơ, rạo rực cả thơ. Tôi rất thỏa mãn khi đọc những cụm từ này của Hưng, nó giải thoát cho chính Hưng và cao hơn nữa, là cho cả chính chúng ta: “nhấp nhô ru ngực núi”, “hớ hênh trăng”, “khỏa thân gió” (Độc thoại đêm); “Nhớn nhác sao trời nhu nhú ngực non” (Bóng nhớ)…

Xin bạn cùng tôi hãy cảm nhận những dòng này và đừng nói gì thêm nữa… Hãy ứa nước mắt vui cùng Hưng:“Chợt hiện ra từ những góc không ngờ/ Vàng cúc đong đưa ngực trần vũ hội/ Râu dế lửa chạm bầu trăng nông nổi/ Thả rơi tiếng cười sương cỏ long lanh” (Thu mong manh). Và… hãy ứa nước mắt vui cùng tôi – một “cánh chuồn dính nhựa”:“Trái tim rừng rực lửa tình/ Có em mùa xuân trở lại/ Úa tàn tôi được hồi sinh” (Cánh chuồn dính nhựa).

Cơn bão động trong lòng thi sĩ thực sự tạo nên chấn động dữ dội ở “Linh miêu”. Đọc bài thơ này, ta thấy: bão lốc cuồng lên; sắc màu chao đảo; hư thực – thực hư; sợ mà mong – mong mà sợ; “leo lét” – “phực cháy”, “đêm  giật nảy” – “người cứng đờ – bật dậy”; trườn lướt, mơn nhẹ  (mềm) – nhảy “phóc” qua bụng ta một bóng hình ma mị:“dội trắng/ dội đen/ dội vàng nức nở/ mèo hoang rậm rật xé đêm gào/ Người chiêm bao đâu có thật chút nào/ sao khắc khoải từng đêm mong gặp lại/ Đốt vui buồn thiêu rụi dấu thương yêu/ leo lét lửa đèn bỗng nhiên phực cháy/ đêm giật nảy/ cứng đờ tôi bật dậy/ mềm bóng ai ma mị phóc qua người”… (Linh miêu).

Qua đêm ma mị rồi, cả cái nắng mai mới rợi quanh ta vẫn còn hơi hớm đêm qua, vương như nhện giăng tơ, ngơ ngác như vừa qua một chiêm bao, mộng mị:“Em – nắng mới/ Ấm rần da/ Rạo rực/ Vương tơ tình/ Ngơ ngác/ Nhện/ Tôi/ Sa” (Nắng mới).

Hình như, đâu đó, trong nỗi đau, đã có lúc người thơ tự trách mình ngây thơ, tự hối hận với chính mình về những ngày thơ ngây cũ:“Tôi sẽ yêu em bằng tình yêu khác… Lửa với hương cũng nồng đượm hơn nhiều/… Biết thả bùa yêu biết gây hương nhớ/ vực hồn em ra khỏi mộ luân hồi/ Ôi, nấm mộ được xây từ vụn vỡ/ Những dại khờ không đáng có nơi tôi!” (Mong ước muộn màng).

Chính sự dại khờ ngày xưa để tất cả vụt qua, để bây giờ đành bất lực đã khiến người thơ cảm nhận đến tận cùng nỗi lạnh buốt tê đến “run cây’, “hổn hển”, để lắng nghe “gió mùa thổi mãi” giữa lòng:“Đêm thu mình trong nỗi nhớ co ro/ Nghe hổn hển mùa run cây lạnh buốt” (Gió mùa thổi mãi). Những cuộc rong chơi trong phân tâm học Freud tạo nên những câu thơ hoang lạc đến dại khờ:“Những giấc mơ ngược sáng đêm qua không ai còn nhớ nữa/ Ngoài hơn hớn buội bờ, hơn hớn cỏ mê tơi…” (Giấc mơ ngược sáng).

Để cuối cùng, hình như, không còn dấu diếm, người thơ tự giải tỏa mình, “Đòi cháy” để mà giải tỏa:“Chưa hề có đêm động phòng hoa chúc/ Cũng không một tờ hôn thú dằn tay/ Nhẹ tênh em như cánh hồng phỡn gió/ Phiêu lưu về mắt bão, mỗi ngày/… Ngây ngất nạp đầy năng lượng mê say/ Trái tim xanh hóa ngọn đèn vĩnh cửu”; và… sợ làm gì những điều quá thật mà qua trần ai, ai cũng là người: “Sợ chi bão khi lòng ăm ắp bão/ Điềm nhiên cây thắp rạng lá trăng chiều/ Khôn nguôi bập bùng khát sống khát yêu/ Lửa đàn bà trong em… đòi cháy!” (Đòi cháy)… Trong thơ Hưng có rất nhiều những bóng hình người phụ nữ. Bên cạnh những mẹ, dì, em… , ta gặp đa phần là những phụ nữ góa bụa, lỡ làng, cô độc, đợi chờ…: “Người ta tát gàu giai chị tát gàu sòng/ Tình trăng vỡ múc hoài không thấy cạn”. Đây chính là những “Huyền Tẫn” của Nguyên-lý-Mẹ vĩnh hằng. Âm âm trong đầu tôi vọng về một lý giải phân tâm học: Kẻ nói nhiều, nói công khai và không ngụy trang về tính nữ lại là kẻ không còn bị ẩn ức mà đã tìm được con đường thanh tẩy, giải thoát (trích theo Bùi Văn Nam Sơn – Vài nét về Bùi Giáng).

 4. Nguyễn Ngọc Hưng – Một thái độ sống, một thái độ thơ

Biết làm sao đây! Trong khi chúng ta đang khỏe, đang vui, tất nhiên cũng đang buồn để làm thơ; Hưng lại đang tự bước lên đường đua, lên võ đài để vừa “chạy tốc độ” vừa “so găng” với chính bệnh tật của mình để làm thơ. Lặng lẽ đấu toát mồ hôi mà chẳng có huy chương, không ai tặng thưởng, lặng lẽ đau thương, lặng lẽ buồn và lặng lẽ thơ, và… chiến thắng cũng tự mình thưởng lấy: “Không có huy chương, không vòng nguyệt quế/ Mình tự đua tự đấu với chính mình/ Mỗi chiến thắng – một nụ cười lặng lẽ/ Bóng tối lui dần cõi sáng hồi sinh” (Đấu trường).

Có lúc Hưng tự hồ nghi chính thơ mình. Mà đã là nhà thơ, ai chẳng hồ nghi dù, hơn ai hết, Hưng hiểu rõ, gần 30 năm qua chính thơ đã cứu sống chính mình: “Nhân loại mỗi ngày mỗi xa lạ hồ nghi/ thơ có là tiếng nói tin yêu, ánh mắt nhìn thiết tha tin cẩn/ có là cây gậy chống cho khuyết tàn vượt lên số phận/ là mái che cho kẻ nhỡ độ đường?” (Khúc hát vào xuân).

Nguyễn Du từng hồ nghi: “Bất tri tam bách…”, “Mua vui cũng được một vài trống canh”, Hàn Mặc Tử từng hồ nghi: “Chẳng có một nàng tiên mô đến khóc”, cả Bích Khê cũng vậy: “Trên mồ con quạ đứng im hơi” Hưng có hồ nghi cũng là một lẽ thường:“Mấy vần ướt ráo thơ tôi/ Vài thu nữa – có ai ngồi nghe mưa?” (Nghe mưa).

Trời đất còn thì nắng mưa còn, đời còn thì thơ còn, đời còn đau thì thơ còn hay, huống chi vài thu nữa… Hưng ơi! Hồ nghi là bản lĩnh của người thơ mà ./.

                                                 Trà Giang, tháng mưa ngâu 2009.
                                                                mai bá ấn

2 phản hồi to “Nguyễn Ngọc Hưng- “Đáy lòng luôn vọng tiếng xanh xưa””

  1. ngohuudoan said

    Cảm ơn anh HNP đã thông tin, xin chúc mừng nhà thơ NNH!!!!!!!

  2. Ngày 30/11/2009, Tiến sĩ – nhà thơ Đinh Tấn Phước có gọi đt thông báo cho HNP là Tập thơ “Những khúc ca trên cỏ” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng được xét giải B – Giải thưởng hàng năm của UB toàn quốc các Hội VHNT Việt Nam. Xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: