Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

    Selsey Life Boat Station

    A Frouxeira...

    My Heart Spills into Vestal Peak

    Petit azuré

    Fallen

    Boiling sky

    A Different World II | Gásadalur, Faroe Islands

    Another world

    Emil-ka

    Mew Lake

    Thêm
  • Tổng lượt xem

    • 447,508 Lượt

Mỹ Lai và những đứa trẻ mồ côi (phần 1)

Posted by thinhanquangngai1 trên 12/03/2010

Mỹ Lai và những đứa trẻ mồ côi (phần 1)

.Trần Văn Đức

PHẦN MỘT
mylai1

….. Đầu năm 1959 gia đình tôi chuyển vùng từ Sơn Hội xuống Sơn Mỹ, để làm ăn, sinh sống.Vì sau khi Ba tôi ở tù ngoài côn đảo về, cuộc sống của gia đình ở Sơn Hội gặp nhiều trắc trở khó khăn, chính quyền luôn dòm ngó, và nhiều lần bắt xuống hội đồng xã để tra khảo.
Dù trong thời chiến, nhưng gia đình tôi ở Sơn Mỹ gặp nhiều thuận lợi trong vấn đề làm ăn, buôn bán.
Ba tôi may vá và làm nghề thuốc tây, còn mẹ tôi tạo rất nhanh được quày hàng tạp hoá ở chợ Sơn Mỹ, sạp hàng có tất cả vải, thuốc tây và quần áo…tên tuổi ông bà chín Tẩu, dường như khá thân quen với người dân Sơn Mỹ thời bấy giờ.
Cuối năm 1959 mẹ tôi sinh đứa con thứ 2, chị Trần thị Mỹ của tôi, được sự hổ trợ của 2 Dì từ Sơn Hội xuống giúp đỡ trong thời gian Mẹ tôi ở cử, nên vấn đề buôn bán của gia đình có phần thuận lợi hơn.
Đầu năm 1960 gia đình tôi đã tạo được một căn nhà rất khang trang gần chợ Sơn Mỹ, bên cạnh nhà ông Bốn Tương, trước sân sẳn có hàng dừa cao tít, trĩu quả bóng dừa tỏa mát cả sân nhà, bên kia đường là ao đầm người ta nuôi tôm cá, xa hơn là những rặng dừa nước mênh mông xanh thẳm, thật vui tai bao tiếng lá xì xào qua cơn gió nhẹ, trước nhà hơn 300 mét là biển Mỹ khê với bờ cát trắng chạy dài tít tắp, và mặt nước trong veo một màu xanh biết, bao la bất tận…
Năm 1962 tôi ra đời, Trần văn Đức tên tôi, lúc bé tí các Dì gọi tôi là Trọng Hiền. Là đứa con trai đầu tiên cho nên, cả gia đình tôi vui lắm, nhất là Ba Má tôi.
Hai năm sau 1964 đứa con thứ tư ra đời, em Trần thị Huệ của tôi.
Thời gian nầy chiến tranh ác liệt lắm, dân Sơn Mỹ chết rất nhiều dưới bao làn bom đạn quân thù, những lần oanh tạc của máy bay Mỹ, và những đợt đột kích từ những hạm đội ngoài biển tấn công vào. Gia đình tôi và dân nơi đây có hôm cả ngày phải núp dưới hầm, nhiều gia đình bị bom dội trúng sụp hầm chết cả nhà, do vậy dân Sơn Mỹ thời gian nầy tản cư đi nơi khác nhiều lắm, để tránh đạn, kẻ đi Lý Sơn, người xuống Bình Đức, nhiều người phải lìa quê xa xứ… Bao gia đình phải ly tan, những đứa trẻ mất cha mẹ, bao cụ già không còn nơi nương tựa, nhà cửa, ruộng vườn tan hoang… Cùng một số gia đình, Ba Mẹ tôi dẫn
các con tản cư xuống Bình Đức, ở tạm nhà người quen gần chợ Bình đức, gần nhà ông Đổng, bà Huệ… gần 2 năm gia đình tôi sinh sống nơi này, ba mẹ tôi vẫn làm nghề cũ may vá và buôn bán, thỉnh thoảng cũng có những trận càn quét, những trận pháo kích, nhưng không liên tục như ở Sơn Mỹ.

Dân Bình Đức phần lớn là ngư dân và làm muối, còn lại số ít làm nông và buôn bán. Bình Đức là một vùng quê duyên hải khá đẹp, nơi đây không xô bồ tấp nập nhưng cũng không kém phần rộn ràng với nhịp sống vươn lên, bao ngư dân vạm vỡ lúc nào trên mặt họ cũng nở nụ cười thân thiện, với những chiếc thuyền tô màu xanh đỏ, họ đua nhau ra khơi đánh cá trong những buổi sáng tinh mơ… Đám trẻ con chúng tôi đợi trời bớt nắng gần xế chiều tập trung đông lắm ở khu đầu bờ đập, để câu cá, câu cua hoặc đá banh nhựa trên đường, đôi khi còn kéo nhau lên đồi sau chợ dùng mo cau tuột xuống…
Bình Đức không yên bình lâu như gia đình tôi tưởng, rồi bom đạn Mỹ cũng dội xuống nơi này liên tục, máu dân lành lại nhuộm đỏ mảnh đất thân thương của họ.Chợ Bình Đức, máy xay gạo bên chợ và bao căn nhà tranh làm mồi cho bom xăng cùng rocket.

Năm 1967 Mẹ tôi sinh đứa con thứ 5, em Trần thị Hà, và cùng thời gian này gia đình lại một lần nữa phải tản cư lên xóm Thuận Yên, Tư Cung, gia đình tôi dựng một căn nhà tranh nhỏ ở tạm trong khu vườn nhà bà Bộ xóm Thuận Yên và cũng năm này Ba tôi phải lên Tịnh Hiệp để công tác, Ông là Y Sỹ của C 12 huyện Sơn Tịnh. Nhờ có các Dì từ Sơn Hội hay xuống giúp đỡ, nên Mẹ tôi phần nào cũng đỡ vất vã trong khoảng thời gian em Hà còn nhỏ.
Hơn một năm sống ở xóm Thuận Yên, Tư cung, là quãng đời hạnh phúc nhất của tôi, của gia đình tôi, dù lúc ấy chiến tranh có phần khốc liệt hơn, bao trận bom, những cuộc càn quét mảnh liệt hơn, dân quê tôi gánh chịu đau thương từng ngày, từng giờ. Không ít thì nhiều, tôi chưa thưởng thức được ngày nào không có tiếng súng của quân thù, nhưng lớn lên tôi hiểu hơn, thấy được nhiều hơn.
Ngoại tôi sinh sống ở Sơn Hội, những đứa con của bà đã có gia đình và ra sống riêng, Dì út của tôi làm ăn xa quê, nên Ba Mẹ tôi phải thường xuyên chăm lo cuộc sống của bà.
Chị Hồng, chị Mỹ thường được Mẹ tôi, sai đem tiền gạo về Ngoại, những lần đó tôi đều đòi đi theo, tôi vui mừng tung tăng chạy theo 2 chị tôi, tất nhiên là không lâu, sau đó tôi bắt… cõng. Màu xanh của ruộng mì, ruộng lúa, huỳnh tinh, rau lang, còn đọng trong tôi vẻ đẹp rất nên thơ của làng quê qua một ít buổi chiều yên bình hiếm hoi thuở đó.
Không biết từ đâu, tôi rất yêu Ngoại tôi, có thể do Mẹ tôi giống Bà, không chỉ về hình dáng mà cả tính cách, đến nay tôi còn cảm nhận được hơi ấm thuở nào của những lần về thăm được Bà ôm vào lòng…
Làng Thuận Yên quê tôi đáng yêu làm sao! Bên đường quốc lộ 24B là hai dãy núi tiếp nhau, um tùm những rặng liễu và tranh, bên này đường là xóm Thuận Yên, Tư Cung, xen lẫn với các xóm dân cư là những thửa ruộng màu mỡ, nơi bà con chân lấm tay bùn, cố đổi lấy những giọt mồ hôi bằng những bát cơm ngon, những manh áo lành …. Tôi có cảm tưởng rằng, dân Mỹ Lai quê tôi rất siêng năng cần cù, vì phải luôn đương đầu với bom đạn, những trận càn quét, những làn rocket, cho nên dân quê tôi phải tranh thủ từng giờ phút, khi sáng sớm hoặc chiều tối là khoảng thời gian im tiếng súng nhất họ đồng loạt ra đồng để trồng trọt, đổ nước cho lúa, tưới nước cho huỳnh tinh, rau lang, mì, bón phân và làm sạch cỏ cho hoa màu… Những người buôn bán họ cũng thức dậy sớm lắm, để lo cơm nước cho gia đình, con cái, trước khi ra chợ.

Buổi sáng 16.03.1968, một buổi sáng định mệnh của tôi, của gia đình tôi, của xóm Thuận Yên và của Mỹ Lai.
Sớm hơn bao trận càn quét trước, 5giờ 30 phút các tràng Pháo từ các nơi bắn vào làng Thận Yên, Tư Cung Mỹ Khê, các tràng Pháo kéo dài hơn mọi khi và sau đó hơn 1 tiếng đồng hồ khoảng hơn 7 giờ trên bầu trời Mỹ Lai xuất hiện rất nhiều máy bay trực thăng và chúng tha hồ bắn rocket vào các khu dân cư, lúc này bà con mới biết một ngày chẳng lành đến với họ, Má tôi cùng mấy chị em chúng tôi đã nghe tiếng la làng của mấy người trúng đạn bị thương… Không lâu sau sau mấy tràn rocket, là tiếng máy bay trực Thăng bay rất thấp và hạ cánh xuống đồng lúa làng Thuận Yên. Lúc này tiếng súng trường của những tên lính Mỹ vừa hạ cánh bắn dữ lắm…, những tiếng la xé trời, tiếng khóc van xin của bao người trên đường ra đồng hoặc đi chợ, thế nhưng những tên Lính Mỹ đâu tha, họ vẫn nổ súng bắn giết những người ấy…
Mấy nhà gần rìa làng bị Lính Mỹ vào và lôi ra đầu tiên, họ bắt tập trung trên bờ ruộng gần ngã ba Tháp Canh.
Mẹ tôi thấy không ổn, nên chuẩn bị thật chu đáo, lấy túi vải thật to màu nâu, bỏ quần aó của mấy chị em tôi vào đó và đưa cho chị Hồng của tôi giữ. Mẹ tôi còn bó vào đùi của mấy chị em tôi, mỗi đứa 10.000 đồng, phòng khi chạy lạc có tiền mà xài, tôi bị nhột quá nên mở ra đưa lại Mẹ tôi số tiền ấy, Bà còn kịp ra hầm phía sau nhà, cất giấu rất nhiều thuốc tây và vải… Công việc vừa xong thì toán Lính Mỹ ập vào nhà, tay súng lăm lăm, lôi mẹ tôi cùng chúng tôi ra đường, dù ôm Hà trên tay bà cũng không quên cầm theo chiếc nón, ra tới đường gia đình tôi nhập vào đoàn người và bị Lính Mỹ dẫn ra ngã ba Tháp canh tập trung, vừa tới nơi lợi dụng lúc hổn loạn Mẹ tôi kéo chúng tôi vào hầm nhà bà Nhiều để trốn, nhưng lúc đó dưới hầm đông nghẹt người, Mẹ và mấy chị em tôi phải đứng gần miệng hầm, tôi thấy nhà trên của Bà Nhiều cũng vậy, người ta vào trốn thật nhiều, dưới phản, sau bàn thờ…, nhưng họ trốn không được lâu, khi những toán Lính Mỹ khác lùa bà con từ các nơi đến ngã ba, chúng bắt ngồi xuống và một toán ập vào nhà bà Nhiều, lôi toàn bộ những người trốn trong nhà ra.chúng chỉa súng xuống hầm và la lớn, mọi người sợ quá lần lượt lên.Tôi còn thấy một bà già, già lắm, chắc bà quá yếu nên từ dưới hầm bước lên chậm lắm, bị một thằng Mỹ tức giận dùng bản súng đập vào lưng bà, chắc bị gãy xương nên bà đi không được nữa, bà té xuống hiên nhà và thằng Mỹ ấy nắm tay bà lôi ra chổ tập trung. Sau sân có buị tre khá rậm, Mẹ tôi định kéo chúng tôi ra hướng ấy để trốn, nhưng bị một thằng Mỹ phát hiện, chạy lại lôi Mẹ tôi rất mạnh, chiếc áo ngoài của Mẹ tôi bị bung hết nút, hết cách Mẹ tôi cùng mấy chị em phải theo ra nơi tập trung, gia đình tôi ngồi sát mé ruộng, chiếc túi đồ màu nâu còn in rõ nơi chúng tôi ngồi, thật đau thương và bi thảm.Tôi nghỉ trên thế gian nầy không có cảnh bi thảm nào hơn vậy, tiếng khóc sợ hải, tiếng van xin, tiếng trẻ thơ khóc thét khiếp đảm… Rồi những tràn súng liên thanh hướng vào đám người vô tội ấy bắn xối xả, không còn tiếng van xin nữa mà thay vào đó là những tiếng ré kinh hoàng, tôi còn nghe thật rõ mà: “chết tôi rồi trời ơi…“, những người chưa trúng đạn đồng loạt đứng dậy để chạy xuống ruộng lúa, nhưng tôi thấy khó ai làm được việc đó, những làn đạn dày đặc của Lính Mỹ nả vào họ, họ bị trúng đạn và lần lượt ngã xuống, máu và thịt người vương vãi mọi nơi, nhiều thi thể không còn toàn thây nữa vì sức công phá quá lớn của những tràn liên thanh ở cự ly gần. Lúc hỗn loạn nầy Mẹ tôi ôm Hà và một tay đẩy tôi xuống bờ ruộng lúa, mùa lúa đang lên đòng nên cũng khá cao, bà nằm đè lên tôi và Hà, chiếc nón là vật ngụy trang thật tốt lúc nầy, bà dùng để che thêm cho tôi, phần mà thân bà đè lên chưa lấp hết, chị Mỹ tôi cũng ngã xuống gần đó và nằm im giả chết… Lính Mỹ vẫn tiếp tục bắn dữ lắm, khi thấy không còn ai sống nữa, chúng lại đến rất gần, tìm trẻ em và một số người còn cử động bắn tiếpm, sau đó chúng lần lượt đi vào làng theo hướng ngã ba, trên đường cái và dưới ruộng xác người nằm la liệt khắp nơi, máu tươi nhuộm ướt cả một quãng đường và phun ướt đẫm cả vạt lúa nơi ấy.

mylai2

Lính Mỹ rút đi một thời gian ngắn thì Hà bỗng khóc, Mẹ tôi bảo tôi, con ôm Hà về nhà Ngoại đi, chứ Lính Mỹ trở lại họ bắn chết. Mẹ tôi bị thương rất nặng ở đầu, bụng và đùi, bà không còn đứng lên được nữa…, bà nghiêng thân mình để khỏi đè Hà nữa nên tôi nhìn thấy rất rõ, lúc đó tôi chỉ nghe lời và vội ôm Hà lên đường đi mau, tôi chỉ còn nói được một lời cuối cùng với mẹ tôi: “Con ôm Hà về ngoại nghen mẹ…“. Tôi sợ Lính Mỹ trở lại bắn chết, cho nên vội đi không suy nghĩ gì để cứu mẹ, dù không làm được gì cho mẹ tôi lúc đó, nhưng nghĩ lại tôi thấy rất buồn và ân hận, tôi thương mẹ tôi thật nhiều…….. Tôi vất vã vừa ôm em Hà vừa phải men nhẹ nhàng để đỡ dẩm lên xác người vương vải khắp nơi….

mylai3

… Bạn nhìn hàng rào kẽm gai ngã về phía ruộng lúa và bao lổ trống trong ruộng lúa xanh tươi, bạn biết đó là chổ nằm của những xác người.
Ronald L Haeberle chụp chưa được toàn cảnh, phía sau chỗ ông đứng và bên trái
còn rất nhiều xác đàn bà và trẻ em.

Vừa rời tháp Canh không xa, một chiếc trực Thăng xuất hiện từ hướng đồn Voi và bỗng dưng bay rất thấp, Đức sợ quá ôm Hà nằm xuống để tránh đạn, nhìn lên máy bay Đức thấy rất rõ, có vài tên Lính Mỹ và một tên ngồi ngoài cửa máy bay, chắc là để chụp hình chứ không phải bắn người, nếu họ bắn thì Đức và Hà đã trúng đạn rồi, vì họ bay rất thấp. Sau đó máy bay biến mất, Đức ôm Hà đứng dậy và tiếp tục đi lên tận Trường An theo lối đường truông để về Sơn Hội.

mylai4

Trên đoạn đường Đức đi thỉnh thoảng cũng gặp vài xác chết của những người dân đi làm đồng buổi sáng hoặc đi chợ xa bị lính gặp và bắn chết. Xa xa phía trong làng tiếng súng còn đang bắn dữ lắm, khói của những căn nhà bị đốt cháy bốc lên thật cao và đen mịt cả một vòm trời, máy bay trực thăng vẫn còn oanh tạc, Sơn Mỹ và bao người dân vô tội, cùng những đứa trẻ thơ đang bị Lính Mỹ tấn công tiêu diệt, trời đất Mỹ lai đảo điên. Bao người thân quen, bà con Mỹ lai chân quê mộc mạc họ làm gì nên tội? Tại sao phải tiêu diệt họ? Cuộc tàn sát mỗi lúc một dữ hơn, những tên Lính Mỹ càng bắn giết càng man rợ và điên cuồng hơn… Ôm Hà về đến Gia Hoà, Đức ghé nhà ông Bác để xin nước uống vì khát quá, ông ta không cho chắc thấy Đức và Hà đang bị thương, máu me đầy người,
hoặc sợ liên lụy sau nầy, vì Sơn Hội lúc này dưới sự cai trị của chế độ Cộng hoà, Đức tiếp tục ôm em mình lủi thủi về Tăng Long, gần tận xế mới về đến nhà Ngoại, Ngoại gặp tôi bà khóc thật nhiều và rất sợ cho chúng tôi, liền đi gọi y tá về để băng bó, cứu chữa cho tôi và Hà, tôi bị thưong ở trán, Hà thì ở bụng. Ông Hùng y tá ở Tăng Long là người đã chạy chữa trị thương cho Đức và Hà, dân Tăng Long ngày đó đến nhà ngoại Đức đông lắm để xem, hỏi thăm và giúp đỡ.

Chị Mỹ, năm ấy 9 tuổi, khi Lính Mỹ nả súng bắn vào đám dân tập trung, loạt súng đầu tiên thật kinh hoàng nhiều người chết lắm, những người khác đồng loạt đứng dậy bỏ chạy xuống ruộng lúa, nhưng Lính Mỹ tiếp tục bắn vào những người ấy, phần lớn bị trúng đạn và ngã chết dưới ruộng, chị tôi cũng bị ngã xuống ruộng và nằm im giả chết, máu thịt của những người bị bắn chết bên cạnh, văng vải lên mình chị tôi nhiều lắm, thoạt nhìn tưởng chị đã bị lính Mỹ bắn chết, khi lính Mỹ bỏ đi nơi khác, chị tôi lom khom bò dậy và cố đi tìm mẹ, chị gặp một người đàn bà khác cũng còn sống sót bảo rằng: “mẹ con đã đi về Ngoại của con rồi“, rồi bà dẫn chị tôi đi tìm con của bà, con bà cũng đang nằm gần đó, bà thấy và ôm lên, đứa bé bị thương rất nặng, bà hớt hải ôm con chạy, chạy lên hướng Trường An để tìm nơi cấp cứu, chị tôi cứ vậy mà chạy theo bà, lên khỏi Trường An đến Tịnh Thiện, bà gởi chị tôi vào nhà một người, và ôm con đi đến trạm xá cấp cứu, chị tôi bảo, đứa bé chắc không qua khỏi vì vết thương khá sâu và dài, máu chảy ra nhiều quá… Người ta bảo chị tôi ở lại một đêm, sáng mai yên yên hãy về, và sáng 17.03.1968 người ta chỉ đường cho chị tôi đi về Sơn Hội. Gặp lại chị, tôi vui mừng khôn tả, nhưng chưa khỏi bàng hoàng, tôi hỏi chị về chị Hồng và em Huệ của tôi, chị bảo bị lính Mỹ bắn chết rồi.
Ba tôi ngày 16.03.1968 đang công tác ở Vĩnh Ty Tịnh Hiệp, nghe tin vụ thảm sát, ông vội lên đường về Sơn Mỹ, đường đi rất khó khăn vì ông là cách mạng, mãi tối 17.03.1968 ông mới về đến Tư Cung, than ôi ông về không kịp. Tối 16.03.1968 đồng chí của ông đã chôn vợ và mấy con của ông rồi, không được tự tay chôn cất những người thân yêu nhất của mình, nhưng vẫn còn kịp đón nhận những thông tin và di vật của gia đình, từ những người đồng chí mà tối qua đã giúp ông chôn cất .
Vài ngày sau tình hình Mỹ Lai lắng xuống dần, một đêm tối trời và lâm râm mưa, ông ghé về Tăng Long thăm mẹ vợ, ông rất mừng vì lúc đó mới biết, 3 đứa con của ông vẫn còn sống sót và đang đứng trước mặt ông… Tôi nhớ rất rõ, Ba tôi ôm tôi, Hà cùng chị Mỹ vào lòng và khóc thật lâu. Sau ngày ấy Ba tôi rất thường về thăm chúng tôi và để lo chữa vết thương cho tôi và em Hà, sau khoảng 2 tuần tôi thấy ông cạo trọc đầu và rất buồn. Vì đang bận công tác ở Vĩnh Ty, Tịnh Hiệp cho nên Ba tôi lưu lại ở quê không lâu, hơn 1 tháng ông phải trở lại đơn vị. Trước khi đi ông còn lo thật kỷ vấn đề cuộc sống và ăn học của 3 chị em tôi, ông gởi gắm cho những người bạn thâm tình những gì chúng tôi cần giúp đỡ sau này.
16.03.1968- ngày định mệnh của 3 chị em chúng tôi, giặc Mỹ đã cướp đi người mẹ yêu quí, người chị và đứa em thật hiền hòa, chúng tôi đã bị mất một gia đình thật sung túc và đầm ấm…
Những ngày đầu tiên, những tuần đầu tiên, 3 chị em cứ ngồi ôm nhau khóc, Ngoại tôi buồn thật buồn, bà càng khuyên chúng tôi càng tủi thân hơn và khóc nhiều hơn….dần dần chúng tôi cũng phải tuân theo qui luật của cuộc sống, cố gắng để tồn tại.
Nhà Ngoại tôi nghèo, thật nghèo. Nhà tranh vách đất, nằm trên đất công dưới lũy tre làng bên dòng sông Sơn Hội hiền từ.Trước đó không lâu cứ mỗi lần cùng 2 chị về thăm Ngoại, tôi thường coi nơi này là tiên cảnh, có dòng sông tôi tha hồ tắm, có bãi cát trắng cho chúng tôi nô đùa và đám trẻ con nơi đây sao dể làm quen đến thế, vậy mà hôm nay, những tháng ngày đầu tiên 3 chị em chúng tôi phải tự lực sống, tôi cảm thấy căn nhà thân quen ngoại tôi sao xa lạ đến thế, sự hồn nhiên trong tôi không còn nữa….tôi thấy thật đắng cay.
Ngoại tôi già yếu, bà củng cố gắng đi phiên chợ chiều An Lộc để mua bán cá, với số vốn ít ỏi cho nên lời cũng không được nhiều, nhưng đó là nguồn sống chính của 4 bà cháu chúng tôi.Chị Mỹ và tôi sau vài tuần hoàn hồn là phải đương đầu với sự thật, chị xin đi ở đợ cho bà Bốn Thường dưới An Lộc, để kiếm cơm ăn và phụ với Ngoại. Ba tháng sau tôi thấy gia đình thiếu thốn đủ bề, dù Ngoại và chị tôi rất cố gắng, tôi bắt đầu đi mót lúa, củ lang, củ mì… để phụ thêm cho sinh nhai của gia đình. Mới có vài tháng mất mẹ, xa gia đình đầm ấm, mà chị Mỹ cùng tôi như kẻ ăn mày từ lâu lắm rồi, hai chị em tôi thật đen và ốm, cứ sáng sớm phải ra đồng và mãi tận chiều tối mới về đến nhà, tôi đội chiếc nón rách, bộ quần áo tả tơi, cây cuốc chỉa và một cái bao đại hàn, người dân nơi đây thu nhập gì tôi cũng đến mót, lúa, mì, lang, bắp củ huỳnh tinh…, đôi khi tôi phụ giúp cả ngày cho họ để đón nhận một chút công ít ỏi, vài trái bắp, đôi ba cân củ lang…
Với em Hà càng thật gian nan hơn, 14 tháng tuổi mất mẹ, tìm đâu ra sữa để nuôi thân, em khóc nhiều khó nuôi và teo riết, Ngoại tôi hay ôm em Hà đi tìm người hàng xóm có con mọn để xin bú nhờ…

… 19.12.1969 lại một tin sét đánh với chúng tôi, tin Ba tôi bị hy sinh. Niềm hy vọng còn lại của 3 chị em chúng tôi đã mất. Dù rất ít về thăm và thỉnh thoảng gởi tiền phụ giúp Ngoại tôi, nhưng với 3 chị em chúng tôi, ông là nguồn động viên vô cùng lớn.
Ông thường nói với 3 chị em, cố gắng ăn học nghe lời dạy bảo của Ngoại, mai sau khôn lớn sẽ đi với Ba… Cuộc sống kinh tế gia đình vốn khó, khi Ba tôi mất lại càng khó khăn hơn.
Năm 1970 tôi và chị Mỹ, được Ngoại cho đi học, mái trường nơi tôi hằng mơ ước, nơi tôi sẽ đón nhận những gì cao quí nhất…vậy mà tôi cảm thấy đắng cay chua chát quá…
Vài tiếng đồng hồ mỗi ngày trong lớp học, còn lại tất cả thời gian, chúng tôi phải bương chải với đời, khó nhọc kiếm từng miếng cơm manh áo, khi trái gió trở trời kiếm không được miếng ăn thì chúng tôi đành chịu đói…Bà Rân, ông Tám em, ông Yên và tất cả dân thôn Tăng Long ngày ấy, họ rất đau lòng trước cảnh ngộ của 3 chị em chúng tôi, cái củ mì, củ lang đọt phay của vườn nhà bà Rân, đã cầm hơi được bao lần đói muốn xiểu của 3 chị em tôi, rất nhiều lần tôi bị ngã gió vì bị say do đói quá nên ăn nhiều trái “Uma“- quả trứng gà.
…….Hà dần lớn lên, cùng chị Mỹ và tôi bương chải gian lao, để kiếm miếng ăn, manh áo. Ngoại càng ngày càng già, bà buôn bán đâu còn được nữa, gia đình tôi càng ngày càng thiếu túng hơn.
Năm 1972 Chị Mỹ tôi học đến lớp 3 trường cơ sở Tăng Long, phải đành nghỉ học, chị buồn và tiếc lắm, nhưng phải đành vậy, chị hy sinh để 2 đứa em mình được học tiếp, sau những giờ học tôi và Hà, nếu không đi làm cho người ta thì đi mót lúa, củ lang….nhưng nhìn chị Tôi, chúng tôi càng buồn hơn, chị đi ở cho người ta thật khổ sở, quần áo rách rưới, ăn uống thiếu thốn, rất nhiều hôm thật khuya chị mới về đến nhà, chị luôn dành cho tôi và Hà những chén cơm đầy, những thức ăn ngon, còn chị ăn qua loa gì cũng xong, chị thường ăn sau cùng để cố nuốt những thức ăn còn lại, nhưng tôi nghĩ chị rất ít được những bữa no.

Từ ngày 16.3.1968, 3 chị em của Đức về ở với ngoại tạo cho bà một gánh quá nặng, thật trầm luân và gian khổ cho bà, bà lầm lủi và rất cố gắng để 3 đứa cháu của bà khỏi chết đói hoặc đưa đẩy vào dòng đời đen bạc.
Bà hay bị chính quyền xã Sơn Hội hay bắt ra xã hội đồng tra hỏi và thường xuyên bắt ngủ lại để canh giữ cơ quan xã khỏi bị cộng sản gài mìn hoặc tấn công.
Bà cũng thiếu thốn lắm, nhường tất cả những gì bà có cho các cháu, thật tội nghiệp cho bà…….

Thời gian năm 1972, 1973 chiến tranh quê tôi lan rộng khắp mọi nơi, không chỉ ở Bình Đức, Sơn Mỹ mà lan rộng đến Sơn Hội, Sơn Thành, Sơn An… dân quê tôi tiếp tục chết nhiều dưới bom đạn, cuối năm 1972 Sơn Hội cũng là bãi chiến trường, gia đình tôi cùng bà con Sơn Hội phải tản cư lên Tịnh Ấn, vài tuần khi tiếng súng tạm yên trở lại.Căn nhà Ngoại tôi bị một trái bom Mỹ thả trúng, cháy sạch chỉ còn lại một cái hố bên cạnh khá sâu.
Bà con quê tôi vốn rất thương gia đình tôi, sau trận bom này họ giúp đỡ thật tận tình, sau ròng 2 tháng vất vã dựng xây, căn nhà lợp bằng tranh lẫn bói vách đất được hình thành.Thoạt nhìn khi trở lại từ Tịnh Ấn, tôi có cảm giác, cuộc đời tôi sẽ không bao giờ còn mái ấm che thân, vậy mà nhờ kẻ gánh đất người cho tre, còn 3 chị em tôi cùng Ngoại ra bãi bồi cắt bói, ra đồng lúa xin rạ, nên sau 2 tháng ròng túp liều tranh ngoài sức tưởng tượng của tôi được dựng lên, là mái ấm che chở cho 4 bà cháu tiếp tục sống trong những ngày tháng vất vã gian nan…
Những buổi chiều mệt lả, từ núi Tranh hay Sơn Mỹ, tôi đi mót củ mót lúa trở về, qua cánh đồng Mã Sơn Hội, nhìn đám bạn trang lứa học cùng trường, đang thả Diều, đá Banh tung tăng đùa ngịch… đôi khi tôi đứng lại lặng nhìn thật lâu mà lòng dâng lên bao nỗi buồn, tuổi thân khôn tả.Tôi không dám đến gần hoặc đi theo đường cũ, tôi phải rẻ đường khác để giử khoảng cách xa hơn, những lúc ấy tôi hay nhìn lại mình, trên vai mang chiếc cuốc chỉa cán dài, đầu kia treo lủng lẳng một cái bao Đại Hàn màu xanh cũ rích, chắc cũng được vài cân củ lang nhỏ xíu, mà người ta hay dùng nó để nấu cám cho Heo ăn, bộ đồ tôi mặc đã rách nát và đổi màu từ lâu cùng chiếc nón cời thật thảm thê mà tôi đâu có tiền để mua chiếc khác….
30.4.1975 Quê hương tôi giải phóng, hòa bình trở lại, tất cả dân quê tôi vui mừng như hội.
Chị Mỹ, em Hà cùng Ngoại tôi không biết lúc đó nghĩ gì, chứ còn tôi, như một kẻ mất hồn, tôi đến rất nhiều nhà, những ai có người thân đi tập kết hay chiến dịch trở về, dù đã biết Ba mình 6 năm rồi khuất núi, nhưng trong tôi ngày ấy mơ tưởng vẫn còn, biết đâu tin xưa không thực, trong bao người trở lại từ các chiến trường khốc liệt biết đâu có Ba tôi…Tôi đứng khá xa và nhỏ lệ, khi nhìn ông Hộ ôm Hồng bạn tôi ngày trở lại qua bao năm xa cách, Hồng là con trai của ông…
Phan Thế Mạnh bạn cùng đơn vị của Ba tôi, an ủi tôi: Ba của con hy sinh rất anh dũng, bị Mỹ bắn chết khi đang làm công tác cứu thương cho đồng đội…
Cũng năm ấy tôi vào lớp 6, được chuyển cấp, từ Sơn Hội lên Sơn Thành học cấp 2, niềm vui sướng và mong mỏi thật lâu của tôi… Ngày đầu tiên nhập học, tôi bị đuổi ra khỏi lớp: “Trò Đức vô kỷ luật, không mặc quần dài khi đi học“ … Tôi khóc thật nhiều và tủi thân lắm, từ hồi nào tới giờ tôi có quần dài đâu mà mặc! Dì Tám của tôi thấy vậy, về nhà lục tìm trong tủ của người Dượng quá cố 1973, may quá trong tủ còn 1 chiếc quần kaki dài màu đen, và đưa cho Dì út của tôi sửa lại bằng tay để tôi mặc đi học, chiếc quần dài đầu đời tôi có là vậy. Cô giáo viên người thị Xã Quảng Ngãi đã đuổi tôi trong tiết học thứ 3 phải bật khóc, khi biết lý do vô kỷ luật của tôi. …. (còn tiếp phần 2)

Bị chú: Sự việc từ năm 1959 đến 1966 Đức nghe Ngoại và các Dì kể lại.
Vô trách nhiệm của ban lãnh đạo nhà chứng tích, đối với tôi là một tổn thất khá lớn về tinh thần, vì tôi phải lập lại tất cả những gì tôi đã cố quên, đôi lúc tôi cảm thấy quá sức chịu đựng, cho dù tôi là người đã tôi luyện trên khổ đau…

Germany-Remscheid 2009.
Trần Văn Đức
Email:DUCTRANVAN@t-online.de
——————————————————————————————-

==> Xem tiếp Phần 2

Advertisements

9 phản hồi to “Mỹ Lai và những đứa trẻ mồ côi (phần 1)”

  1. Duc said

    cam on Kieu Tran!
    chu goi chau link bai nay (truongduynhat.vn/?p=3770)
    chu Tran Van Duc

    —————————————————————–
    Ghi chú: TNQN đã bỏ bớt phần “http://” trong link trên

  2. Kieu Tran said

    Đọc bài viết này xong cháu đã bật khóc Chú ạ! Cháu ko biết nói gì hơn cả, nổi đau nào cũng để lại một vết thương cả, có vết thương theo tháng năm sẽ lành miệng nhưng cũng có vết thương sẽ mãi là vết sẹo theo suốt cuộc đời của ta. Cháu cầu mong Chú sẽ mãi bình an, hạnh phúc và sẽ viết nhiều hơn nữa để cho những người con Quảng Ngãi chúng cháu nói riêng và tất cả mọi người nói chung hiểu thấu được nỗi đau chiến tranh đã hằn dấu lại. Chúc Chú và gia đình luôn thành công!

  3. Chân thành cám ơn những lời chia sẽ của Hồng Phúc và Cháu Diễm Trinh .
    đúng như Đoan kể đấy Phúc à.

  4. Anh Đức ơi! Có lần lên Lâm Hà ,Lâm Đồng .HP có gặp Anh bạn là Nguyễn Ngọc Đoan có kể sơ qua về sự thật những người còn sống trong trận càn ở Mỹ Lai Và HP cũng nghe giống như anh Đức nói vây.Như vậy là anh đang ở Đức phải không anh ? . Chúc Anh và gia đình vạn sự cát tường .
    Hồng Phúc .

  5. Anh Đức ơi! Đọc những dòng hồi ký của anh thật cảm động .Hồng Phúc cũng là người quê hương nên cũng phần nào đón nhận cảnh chiến tranh tàn khốc .Mẹ Hp cũng giống Mẹ anh cũng từng đè lên trên mình hai người con bé xíu để có trúng đạn mẹ chết để anh em tôi được sống .Hình ảnh ấy đến giờ tôi vẫn nhớ .Ước gì có dịp anh em mình gặp nhau để ôn lại kỷ niềm một thời kinh hoàn đã qua . Xin chúc mừng anh và hai chị em sống sót trong trận tàn sát ở Sơn Mỹ .Còn sự thật vẫn là sự thật anh ạ và mọi người dân quê còn để làm nhân chứng .Chúc Anh và gia đình sức khỏe vạn sự cát tường .
    Chào Anh .
    Hồng Phúc

  6. Diễm Trinh said

    Cảm ơn chú, chú hãy viết nhiều hơn để những người con Quảng Ngãi hiểu được hết nỗi đau chiến tranh! Con đã khóc khi đọc bài viết của chú! Thật là xúc động! Lúc nhỏ,con đã từng đi thăm Sơn Mỹ, lúc đó, họ còn để những bức hình man rợ của bọn Mỹ đối với dân mình! Giờ thì hết rồi, chỉ còn là những bức ảnh tham quan. Có những nỗi đau không thể nào xoa dịu được!

  7. Anh Đức ơi, em đã đọc phần 1 – Mỹ Lai và những đứa trẻ mồ côi, em càng hiểu hơn nỗi đau của người dân Mỹ Lai trong vụ thảm sát đó, trong đó có gia đình anh.
    Em đã copy bài này đưa qua BLOCK để cộng đồng BL biết…

  8. Đỗ Ba(Đỗ Hoà),cám ơn bạn đã đọc “Hồi Ký” của mình.Bạn cũng là nạn nhân còn sống sót ở Mỹ Lai như mình,bạn thì ở Mương Kênh,còn mình thì ở Tháp Canh,chắc bạn thấu hiểu nỗi đớn đau tan thương ngày ấy và hệ lụy của cuộc thảm sát kinh hoàng?!…vậy mà gia đình mình bị ban lãnh đạo nhà chứng tích Sơn Mỹ làm cho sai mọi sự thật,mình cố gắng làm sáng tỏ sự thật của gia đình thôi mà bị “Giám đốc” trù dập vu khống nhiều điều quá…bạn thấy buồn cười không?(buồn cười trên nỗi đau…)

  9. tao hoa ne said

    minh doc thu cua ban roi ban nho goi dien cho minh nha
    ban tra loi phong van bao chi chua
    chuc ban va gia dinh luon luon manh khoe va thanh cong
    DO BA

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: