Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 451,417 Lượt

Báo vẫn thơ và thơ vẫn hay- Mai Bá Ấn

Posted by thinhanquangngai1 trên 25/06/2010

BÁO VẪN THƠ VÀ THƠ VẪN HAY
– TS. Mai Bá Ấn

Báo và Thơ, Thơ và Báo, ai có trước, ai có sau, chuyện cũng đã rõ rành rành rằng: Thơ có trước từ thời loài người chưa có chữ viết, riêng ở Việt Nam mình thì điều này lại càng rõ ràng hơn. Thế nhưng, đứng tại thời đương đại này, thử đặt câu hỏi đó cho bản thân các nhà báo, nhà thơ chúng ta, thì cũng không phải dễ trả lời. Có nhiều nhà báo nổi tiếng, suốt đời không làm nổi một câu thơ. Có nhà thơ nổi tiếng, suốt đời chưa hề viết một dòng tin ngắn. Có người Thơ trước, Báo sau. Lại có người Báo trước, Thơ sau. Và nhiều hơn là Báo và Thơ lẫn lộn chẳng trước chẳng sau… Thơ có thể xuất phát từ lúc chưa học chữ (nghĩa là chưa đòi hỏi qua đào tạo nghề… mà hình như cũng không có nghề… Thơ). Báo lại đòi hỏi phải là một nghề (Nghề làm Báo). Ý tôi muốn nói: có nhà  thơ, có nhà báo. Nhưng có nghề làm báo, mà không ai gọi nghề làm thơ. Nhà báo phải có thẻ hành nghề hẳn hoi, còn nhà thơ, cũng có thẻ, nhưng là thẻ Hội viên (để bọc túi chơi chứ không phải để hành nghề). Còn đã là nhà báo thì không có thẻ, ai cho anh vào hội trường, hiện trường để nắm thông tin mà viết (không Thông thì không Tin mà!). Không cho Thông (thông hành) vào hiện trường, lấy đâu ra Tin mà viết. Hơn nữa, dẫu có Tin nghe được, viết được chính xác Tin… cũng chẳng ai Thông… Và cuối cùng… cũng chẳng ai Tin! Nhưng thôi, bỏ qua chuyện chơi chữ, mặc dù chơi chữ rất hay, có khi dễ hiểu hơn những khái niệm lý thuyết mơ hồ! Thanh Thảo gọi: Thơ Báo là “Tháo bơ”, tôi thêm: Nhà báo là “nhào bá” (nhào vào trăm việc mà làm thành, hay là nhào nặn trăm thứ hùm bà lằng gì đó mà thành); nhà thơ là “nhờ tha” (chữ tha này quá đa nghĩa, tham nghĩa. Mà tham nghĩa quá, gọi là “tạ tham”, nên thôi đã là “tạ tham” thì  “tạm tha” phần giải nghĩa), … Đầy chất tượng hình cũng dí dỏm khôn lường, mà triết lý cũng ghê chứ không phải đùa chơi. Cứ ngẫm cái chuyện “nói lái” của nhà thơ phù thủy ngôn từ Bùi Giáng thì rõ hết. Ông “Bàng Dúi, Bán Dùi” này đã từng dịch và sáng tạo cả mớ sách triết nước ngoài mà ai cũng tâm phục, khẩu phục kia mà.

            Xin lỗi bạn đọc, vì đang viết bài về thơ của các nhà báo nên tôi cũng xin tếu táo đôi lời để “đề fa” (chứ không phải “đà fê”!) cho hơi giông giống mấy ông nhà báo trước khi phẩm bình về thơ của họ. Mà lại là nhà báo Quảng Ngãi anh em mình nữa chứ! Nói không khéo lại kẻ giận, người cười thì sinh ra mất đoàn kết nội bộ chứ chả chơi! Giờ thì… xin được bàn nghiêm túc về thơ của các nhà báo ở Quảng Ngãi đây, không đùa cợt nữa. Mấy hôm nay, tôi cố tịnh tâm, lắng lòng vào từng dòng thơ họ ngỏ hầu tìm ra một cái gì đó để thấy rằng: là nhà báo phải có bút pháp riêng để tạo nên phong cách báo chí của mình thì khi đã làm thơ (dẫu chưa phải nhà thơ) cũng phải có bút pháp nghệ thuật để gọi là phong cách thơ của mình chứ. Mà thôi, mỗi người một nét, bài viết này xin được phẩm bình (theo cảm nghĩ riêng mình) về thơ của các nhà báo Quảng Ngãi với những chung chung và riêng riêng đôi nét. Nói để lấy “khâu oai” một chút cho “công trình” (bài viết) này thì: đối tượng nghiên cứu là Tuyển tập “Dọc đường thơ” của Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam ở Quảng Ngãi do Hội Nhà báo Quảng Ngãi ấn hành năm 2005 và mở rộng thêm một vài bài thơ của các nhà báo đó vừa mới in trên Tạp chí Sông Trà số tháng 4/2010.

            Điều xin lưu ý đầu tiên là trong số 17 nhà báo này thì đã có đến 3 nhà thơ cấp Nhà nước, 11 nhà thơ cấp Tỉnh rồi. Chỉ có 3 nhà báo chưa phải nhà thơ cấp nào mà thôi (Hoàng Danh, Tiến Sơn và Minh Trí). Trước khi viết bài này, tôi suy nghĩ mãi về một nhận xét của nhà thơ Thanh Thảo trong lời giới thiệu tập “Dọc đường thơ”, rằng: “Có lẽ chỉ ở Việt Nam mình mới có hiện tượng song hành giữa báo và thơ một cách rộng rãi như thế. Ở các nước phát triển, nhà báo rất ít khi làm thơ”. Vì sao như vậy? Thanh Thảo cho rằng “vì nghề báo thực ra rất nhọc nhằn và chiếm hết thì giờ của nhà báo”. Tôi lại nghĩ thêm rằng, cội rễ là ở chỗ, cái yêu cầu phản ánh hiện thực của hai cuộc kháng chiến vĩ đại (Pháp và Mỹ) của dân tộc ta trên nền tảng phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đã khiến dòng văn học cách mạng Việt Nam đậm chất hiện thực, cảm hứng thơ luôn được xuất phát từ hiện thực của cuộc sống chiến tranh và lấy thơ phục vụ đắc lực cho mục tiêu của các cuộc chiến tranh ấy: “Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ/ Hơn nghìn trang sách luận văn chương” (Tố Hữu); nên thơ và báo ở Việt Nam dễ thảo hiệp cùng nhau. Cứ thử so sánh dòng văn học lãng mạn và dòng văn học cách mạng giai đoạn 1930-1945 ta sẽ thấy rõ điều này. Vấn đề cơ bản là từ hiện thực ấy, bằng rung động thẩm mỹ của mình, các nhà thơ Việt Nam, đặc biệt là hai thế hệ thơ kháng chiến đã để lại một gia tài thơ khá đồ sộ và có không ít những tác phẩm sống mãi với thời gian. Vậy thì, thơ của các nhà báo có gì khác không với thơ của các nhà thơ? Câu hỏi này cũng không dễ trả lời vì cái “hiện tượng song hành” như trên đã nói. Nhưng dẫu sao, đọc thơ của các nhà báo Quảng Ngãi (chí ít là trong tập “Dọc đường thơ”), tôi vẫn nhận ra có những nét riêng so với các tuyển tập thơ khác.

 

            1. Dấu ấn nghề báo trong thơ:

            Dấu ấn nghề nghiệp thể hiện ngay ở tên của tuyển tập này: “Dọc đường thơ”, nghĩa là những bài thơ được sáng tác theo dọc đường công tác (báo chí). Hẳn các nhà biên tập cũng đã thấy nét chung trong 17 tác giả thơ chọn vào tuyển tập nên mới khái quát được cái tên hay như thế. Khi khảo sát toàn bộ tuyển tập thơ, chúng tôi lại nhận ra rằng, đa số thơ trong tuyển tập đúng là được sáng tác dưới góc nhìn của báo chí, đa phần gắn với địa danh và sự kiện. Với Thanh Thảo, đó là “Ghi dọc đường số một” khi tác giả xuôi từ Sài Gòn về Hà Nội ngay những ngày đầu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Vũ Hải Đoàn là “Chào Ba Tơ” với “Ta về thăm lại đỉnh Cao Muôn”; Hoàng Danh là “Qua đường” gặp cô gái ở vùng địch hậu; Hoài Hà là “Đêm giao cảm” khi nhà thơ dự lễ phát động dân di dời để xây dựng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất; Nguyễn Ngọc Trạch là “Chốn cũ” Hiệp Bình và “Với đảo” Lý Sơn; Trầm Thụy Du nhìn “Mây trên đèo Viôlắc”; Nguyễn Mậu Chiến là “Hồi ức quê”  Tú Sơn với “Cứ mỗi năm một vài lần về lại”; Lê Hồng Khánh trải cảm xúc mình khi công tác ở “Cà Mau”; Ngọc Toàn thì “Quy Nhơn ngày trở lại”; Đăng Vũ “Nhớ bến sông quê”… Tiến Sơn có lẽ vì không phải nhà thơ cấp nào hết nên cái nhìn thể hiện rõ hơn “thói tò mò” của nhà báo: “Thói tò mò/ Cuốn hút tôi/ Về hướng đó” (Dấu chân trên cỏ)… Nói “diện rồi”, tôi xin được lấy “điểm” để bạn đọc dễ thông cảm hơn. Đây, cứ nhìn cái cách cấu tứ của hai bài thơ Lý Văn Hiền trong truyển tập này: Bài “Trễ hội”, cứ câu Lục gồm những địa danh nhà báo đi qua thì câu Bát lại được phả hồn thơ vào đó:“Tôi về đã trễ hội Lim/ Đành vin quan họ đi tìm hạ lan/…/Mượn Tiên Trà chút men say/ Tôi dìm tôi với bóng ai mơ hồ/…/ Ga Hàng Cỏ nợ nụ cười/ Buồn như vó ngựa gõ lời chia tay!” hoặc ngược lại, câu Lục thơ, câu Bát báo: “Dẫu chân sĩ tử trái mùa/ Thị Yên Phong vẫn hương đưa dịu dàng” “Thời gian xô chúng mình lớn lên/ Thôi những buổi tắm truồng bến bàu Trai, vũng Đục”, hoặc tan hòa trong cả hai câu giữa báo và thơ: “Đêm dậy thì Tam Hân ta tát nước/ Những gàu sòng sạt đợt tuổi thơ mình” (Chuyện ngày xưa). Do cái “thói” của một người nghiên cứu, tôi lại phải thống kê, và cái điều mà tôi gọi là “tính báo chí” trong tuyển tập thơ này quả đã thể hiện rõ qua hàng loạt tên của các địa danh mà bước chân nhà báo đã đi qua và hồn thơ ghi lại. Chỉ với 46 bài thơ trong tuyển tập, tôi đã thống kê được đến 143 tên địa danh xuất hiện trong đầu đề bài thơ, trong bài thơ và dòng chú nơi sáng tác. Quả là một con số cần được nhắc đến, và chỉ riêng điều này thôi, cũng đã cho thấy tính song hành thơ báo, báo thơ được minh chứng rất rõ ràng. Đặc biệt, đã xuất hiện một số bài thơ viết về nghề báo: “Em đi ra Bắc – em trở về Nam/ Nữ ký giả trên chiến trường Quảng Ngãi/ Đường Trường Sơn qua bao đèo ải/ Ngòi bút em đi đánh giặc giữ làng” (Em là con sông quê hương-Vũ Hải Đoàn). Ở đây, còn sự đấu tranh giữa báo và thơ trong một con người. Cái chuyện lấy ngắn nuôi dài, viết báo để kiếm nguồn thu nhập mà sống còn làm thơ là để tuổi tên được sống hoặc ít ra để có phút giây sống cho trọn hồn mình cũng là một chủ đề khá rõ: “Bạn của anh viết thơ làm báo/ Báo nuôi thơ quá đổi nhọc nhằn” (Vu vơ-Lê Văn Sơn). Cái sự dằn vặt giữa Trần Đăng – nhà báo và Phạm Đương – nhà thơ đã nói hộ được cho anh em nhà báo làm thơ cái điều mà ai cũng có: “Rào rào máy chữ/ thơ và báo/ anh đang đi trên dây leo/ giữa hư danh và cơm áo/ rào rào máy chữ/ thơ hay báo?” (Trên máy chữ). Và anh có hẳn một bài thơ khá hay được nẩy ra từ công việc chính của nghề làm báo – công việc Biên tập:“hình như là thừa một câu/… /và anh đọc lại/ rồi cắt!/ Hình như là thừa bó hoa/… /hoa chi cho thừa/ và anh tự cắt!/ hình như là thừa một điều gì đó/…/cắt/…/ lập tức/ anh bị đuổi khỏi chân biên tập” (Biên tập)… Chính vì lẽ đó, nên tác giả nào để ngòi bút báo lấn thơ, người đọc sẽ nhận ra ngay vì cảm xúc chưa thật sự chín. Có lẽ, đây cũng chính là cái khó nhất của nhà báo khi làm thơ. Giả dụ những đoạn thơ: “Nhớ chăng em, mới năm nào/ Mà nay thay đổi biết bao trên đường/ Em đi lên giữa tình thương/ Lớn lên cùng với quê hương Anh hùng” (Qua đường), “Miền Nam giải phóng/ Mười sáu năm qua/ Các anh, chị đưa em về với quê nhà/ Chung mái ấm tình quê/ Nghĩa trang liệt sĩ” (Em là con sông quê hương)…

            Nhưng.. có lẽ đó là những hạn chế mang tính tất yếu của những nhà báo làm thơ. Vấn đề cốt tử là cái còn lại trong những bài thơ của các nhà báo Quảng Ngãi là gì? Là chất thơ! Vâng,…

 

2. Báo vẫn thơ và thơ vẫn hay  

            Cái tuýt này đột nhiên xuất hiện rất tình cờ. Tưởng phi lý mà hoàn toàn hữu lý, do xuất phát từ câu thơ của Vũ Cao: “Núi vẫn đôi mà anh mất em”. Đó, văn chương nó cứ hay có những liên tưởng cơ chừng rất vu vơ, rất bâng quơ, nhưng nghĩ lại, nó thật sự đã ẩn chứa từ trong tiềm thức hoặc vô thức của mình, rồi khi gặp dịp là nó ùa ra chẳng ai lường trước được. Về chất thơ trong thơ những nhà báo Quảng Ngãi, nhà thơ Thanh Thảo đã mượn lời cụ Nguyễn Du cảm nhận khi đọc tuyển thơ này: “Rằng hay thì thật là hay… và nói gì cũng bằng thừa, tôi xin quí độc giả cứ đọc thẳng vào thơ của các nhà báo trong tập này sẽ rõ”…

            Sinh đúng vào năm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đến nay đã tròn 70 tuổi, vậy mà thơ Vũ Hải Đoàn vẫn cứ trong veo như nước Thạch Nham tuôn về trên những dòng kênh tưới xanh bao đồng lúa. Hình ảnh con cá bống sông Trà đi lạc khiến tôi nghĩ ngay đến cái sự đi lạc qua thơ rất hồn nhiên của lão nhà báo này. Gọi: “Vũ Hải Đoàn thơ” chính là nhờ những cú “đi lạc” ngoạn mục ấy: “Con cá bống sông Trà/ Vui theo dòng nước bạc/ Bao mương máng đi qua/ Mới hay mình bị lạc” (Tình ca Thạch Nham). Còn Lục bát Vũ Hải Đoàn chân quê, đi vào lòng người lúc nào không rõ, để đôi lúc giật mình ngộ ra: đúng là câu lục bát… già rồi vẫn còn duyên: “Ngày xưa bà thích thơ ông/ Yêu thơ bà lấy làm chồng. Thế thôi!” (Bà nhà nông, ông nhà thơ). Sinh sau hai năm, so với Vũ Hải Đoàn, thơ Nguyễn Trung Hiếu cũng xanh trong, nhưng màu xanh đậm hơn, đằm hơn bởi đôi lúc lắng xuống chút vàng triết lý: “Một chiếc lá vàng rơi/ Màu xanh dường không đổi/ Đôi khi ta vô tình/ Để một ngày ở lại” (Màu xanh-thời gian). Chỉ một chút xanh đậm nên triết lý mà không sa đà để hơi thơ đi một cách hồn nhiên:“Cảm lòng Thượng giới sai Tiên xuống/ Sẻ nỗi niềm phận gái đơn côi/ Cô gái cùng Tiên luôn ngóng đợi/ Hun hút người đi tận cuối trời” (Suối Tiên-nơi cô gái chờ chồng). Hoàng Danh không phải nhà thơ, nhưng từ hiện thực làm báo trong chiến tranh, tự động mở hồn để làm nên những câu thơ cụ thể mà vón cục như giọt máu đau thương, căm thù này thì cũng đáng để ta trân trọng: “Thuốc độc Mỹ xông hầm, bầm da rỉ máu/ Giặc giết mẹ em phơi xác rào vi/ Em bé thơ ơi, chiều nay ai cho bú/ Mới lọt lòng, thù Mỹ đã khắc ghi” (Đất quê hương). Cái câu thơ bình thường này: “Em bé thơ ơi, chiều nay ai cho bú” đọc lên, ta dường như thấy đôi mắt tác giả đỏ hoe và ướt lệ, quặn đau đến thảng thốt cõi lòng. Điều đáng ghi nhận và cái đã khiến thơ Hoài Hà sống được, chính là cách phát hiện, góc nhìn rất thơ của anh trước cuộc sống như kiểu “Chuyến xe chiều sau tết” hoặc : “Ta nhặt trên đồng xanh/ Dấu chân cò lặn lội” (Đêm giao cảm). Trong cái đêm hòa bình của thời kinh tế thị trường, chính quyền kêu gọi nhân dân di dời để lấy đất xây dựng Nhà máy Lọc dầu hiện đại và hoành tráng, tác giả lại “nhặt trên đồng” cái “dấu chân cò lặn lội”, để rồi bên cạnh việc mang theo những giá trị vật chất, họ còn mang cả những giá trị văn hóa tinh thần của cố hương (cả dấu chân cò nhỏ nhoi, mỏng mảnh hồn quê) về định cư ở miền quê mới, khiến thơ đã giao cảm được với những điều tưởng chứng khó lòng giao cảm: “Ngày mai, cả mẹ, cả em/ Cả những câu ca dao, cả những tiếng gà/ Đi định cư ở một miền quê mới” (Đêm giao cảm).

 

Trên đây, tưởng vô tình mà không vô tình, tôi đã nói về thơ của 4 nhà báo sinh ra trước cách mạng tháng Tám. Sinh ngay sau Cách mạng tháng Tám một năm, Thanh Thảo trở thành đại diện xứng đáng cho thế hệ các nhà báo, nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Là nhà thơ luôn tự làm mới mình bằng một lối tư duy thơ hiện đại, lạ và nhiều phát hiện, có thể nói, mỗi bài báo của Thanh Thảo gần như cũng là một bài thơ. Cái “tứ thơ” chứa trong hình thức một bài báo khiến những bài viết của Thanh Thảo dễ đọc, mới và hấp dẫn. Xuyên Việt ngay sau những ngày thống nhất đầu tiên, Thanh Thảo không quá mê say trong chiến thắng đến mức bỏ quên nỗi đau chiến tranh vẫn còn đang thường trực, mà anh cảm nhận “nỗi đau chiến tranh trong hòa bình” còn bi tráng hơn nhiều: “trái bom nổ từ tháng tư/ chìm sâu trong mắt người mẹ/ mất hai con. Không chắc còn sinh đẻ/ chị cúi xuống luống khoai vun xới một mình/…/ từ nay đến cuối đời chị không còn sinh đẻ/ miếng kính vỡ/ lóe mặt trời”. Nỗi đau sắc lẹm, vỡ vụn , lóe sáng như thủy tinh. Nhưng không tuyệt vọng, chị “cúi xuống”, “vun xới” để: “Bụi xương rồng gai góc/ các em qua bật nở những chấm hồng” (Ghi trên đường số một). Có lẽ, Thanh Thảo trở thành nhà thơ lớn cũng chính cái nhìn sắc sảo và đầy nhân tình ấy…. Sắp từ giã vị trí lãnh đạo một cơ quan báo chí, gần đây, Nguyễn Ngọc Trạch cho đăng khá nhiều thơ, anh lại sắp cho xuất bản một tập thơ, nhà thơ Thanh Thảo sẽ tuyển chọn và viết lời giới thiệu. Lợi dụng thời điểm tập thơ chưa ra đời (nghĩa là bác Thảo chưa bình), tôi xin được vài dòng bình phẩm sớm… Đọc thơ Nguyễn Ngọc Trạch, trong cái hơi “trường lực” của một bài thơ dài, chứa đựng nhiều ý thơ đẹp, suông sẻ về vần điệu, ngôn từ, ta dễ bắt gặp một vài câu, một vài đoạn khá hay:“Con nước lớn, ròng con hàu gọi bạn/ Ốc xa cừ, nồng những cuộc chia xa/ Khuya đảo vắng, phút giao hòa trời đất/ Đảo và em vương vấn biết đâu là…” (Với đảo, biết đâu là…). Cái “con hàu gọi bạn”, “ốc xa cừ, nồng những cuộc chia tay” và cái nỗi “vương vấn biết đâu là…” giữa đảo và em là những hình ảnh thơ chắc lọc, cụ thể và sinh động. Bên cạnh những đoạn thơ khá hiện đại: “Ngày không nắng/ Hẻm phố u buồn/ Lá rụng” (Ngày không nắng), ta gặp được ở Nguyễn Ngọc trạch những câu lục bát khá dễ thương: “Nỗi niềm chi rứa người ơi…/ Để mình anh, những một đời bão giông” (Chốn cũ). May quá, chính cái cụm “những một đời bão giông” khiến câu lục bát này còn được nét riêng và góp phần khẳng định cái duyên thơ muộn của anh. Cũng như Nguyễn Ngọc Trạch, Tiến Sơn là lãnh đạo một cơ quan báo chí, anh hết lòng với báo, chỉ thi thoảng tự tươi mát hồn mình bằng những bài thơ. Tiến Sơn không phải Hội viên văn nghệ, song đọc những dòng này, ta vẫn thấy lấp lánh bên trong con người báo chí kia là cả một hồn thơ, và tôi tin, rồi đây, Tiến Sơn sẽ làm thơ nhiều hơn nữa: “Giữa vui buồn hờn giận quý nhân ơi/ Ta có cả những tháng năm vời vợi/ Dẫu chậm bước ta vẫn còn mãi đợi/ Quê hương ơi, quặn thắt tiếng ru hời” (Với bạn-Tiến Sơn)… Trầm Thụy Du làm thơ từ trước 1975 rồi chuyển sang làm báo. Cho nên, ta không ngạc nhiên khi gặp những câu thơ “vui buồn hờn giận” đậm chất Thụy Du: “Tự nhiên thấy lòng buồn như lá cỏ/ Chầm chậm thôi em nhé!/ Kẻo chiều phai” (Mây trên đèo Viôlắc). Trầm Thụy Du là bút danh thơ, còn với báo, anh em vẫn quen gọi Dương Thành Vinh với giọng lưỡi tếu táo và tài “nói lái” cũng như tài ứng tác “lục bát theo vần” khá nhạy. Chính lối ứng tác nhanh nhạy ấy đã giúp Trầm Thụy Du bắt nhịp dễ dàng cái hơi Sáu Tám hiện đại: “Ta ngồi vọc cát ta chơi/ Sóng xô từng đợt đã đời trùng dương/ Bước lần theo vết dã tràng/ U ơ lời sóng vô thường gọi ta” (Trên bờ biển). Cái từ “vọc” này, ai đã chơi với Thành Vinh thì thấy rõ nó đậm chất tếu táo, gây cười dễ thương ấy của anh ngay… Từ trước 1975, Lý Văn Hiền đã trở thành một “hiện tượng thơ” ở Quảng Ngãi thời còn cắp sách phổ thông. Một chút lãng đãng, một chút bụi bặm, một chút “tráng sĩ hề” của  tâm trạng hoài cổ, thơ Hiền tạo được dấu ấn rất riêng: “Thẻ bia ố mặt thời gian/ Tuổi ba mươi đẫm nỗi oan khuất đời/ Tinh hoa thổ huyết trao người/ Cỏ vàng lem luốc mộ còi cọc ghi/ Tay cầm nhang vẫn hồ nghi/ Mệnh sao bạc đuổi cõi thi nhân nằm?” (Viếng mộ Bích Khê)… Là nhà báo, lại vừa được đắc cử làm Chủ tịch Hội VHNT tỉnh, ở Lê Văn Sơn, tôi có cảm giác chất thơ nặng hơn chất báo. Anh có những cơn mơ khả dĩ nên thơ, cách bộc bạch cái mê muội của mình ở nhà thơ này cũng khá táo bạo: “Có người không dám soi gương buổi sáng/ Ngại ngùng khi nhìn mặt con/ Vì mơ thấy mình là người phụ bạc/ Có người giật mình thảng thốt trong đêm/ Mơ thấy vợ đã yêu người khác” (Những giấc mơ). Đọc thơ Sơn, tôi có cảm giác như cầm trên tay mình một cái gì đó mỏng mảnh, dễ tan giữa thực, dễ biến vào những cơn mơ hoang đàng: “lỡ vương vài mớ tơ trời/ sợi rơi sợi gãy sợi trôi hoang đàng” (Vương tơ)… Nguyễn Mậu Chiến làm thơ đã lâu và in thơ khá đều. Thơ Chiến hiền hậu, dân dã, trong sáng như cánh đồng “đập cục” Tú Sơn quê Chiến vậy. Không uốn éo ngôn từ, lời thơ thô mộc, thơ Chiến sống trong lòng bạn đọc nhờ lối trần tình chân thành ấy: “Chỉ hai tiếng quê mình/ Mà một đời đau đáu/ Này người ơi có thấu/ Nỗi lòng người xa quê” (Tiếng lòng) và:“Khói lam vờn mái rạ/ Ta một thời ngu ngơ/ Một thời ta dại khờ/ Nay tóc đà điểm bạc” (Vẫn mãi tuổi thơ mình)… Nguyễn Quang Trần đa đoan hơn với thơ. Anh vốn là sinh viên Sử làm báo và mang nặng hồn thơ. Thơ Trần hồn hậu, nhiều trở trăn, thoảng trong một bài thơ cứ bắt gặp đâu đó một tiếng thở dài: “Ta ngu ngơ hết một thời trai trẻ/ Em hồn nhiên qua cái tuổi dậy thì/ Đến một ngày ta bỗng dưng chợt hiểu/ Nhưng, trời ơi! Người ấy đã ra đi” (Trên bến sông Thương)… Minh Trí làm thơ nhưng tạng người anh nặng hơn về báo. Việc Trí làm thơ cũng có khá nhiều anh em thấy chàng này hơi ngồ ngộ. Ngộ là vì… thi thoảng cùng với nụ cười hiền hiền, chàng ta cũng có những khoảng nhớ khá “say”: “Và nỗi nhớ dịu êm/ Cơn say nào có biết/ Hoa thơm nào có hay” (Kỷ vật cho em). Đăng Vũ là một nhà báo đa tài và lắm việc. Làm Giám đốc, làm Chủ tịch Hội, làm nhà nghiên cứu văn hóa, làm người vẽ bìa sách và cả làm thơ… đều ghi được dấu ấn trong lòng công chúng. Cái gốc văn hóa khiến thơ Đăng Vũ có độ sâu dù chỉ nói về những điều đơn giản: “Đấy là nơi bạn sang bên kia lấy chồng/ Không thèm chơi với tụi trai làng nữa/ Tiếng huýt sáo bên đò sau ngày gặt lúa/ Rơi xuống sông chìm nghỉm tự bao giờ” (Nhớ bến sông quê). Vì lẽ đó, thơ Vũ tạo nên độ trầm nhất định: “Tôi bỗng hiểu/ Tìm được mình/ Là khi chạm vào giới hạn/ Là khi chạm vào nỗi đau” (Lời người say)… Là nhà báo chuyên nghiệp có tên tuổi, nhưng Trần Đăng báo vẫn không giết chết chàng Phạm Đương thơ từ thời còn ở giảng đường. Và càng về sau, cái chàng nhà thơ càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn để anh nghiễm nhiên đứng vào Hội Nhà văn bằng chính bản lĩnh thơ và một tư duy thơ mang đậm hơi thở của cuộc đời trần trụi được diễn đạt bằng một cấu trúc ngôn ngữ lạ và đa trường nghĩa, trúc trắc như cuộc đời nhưng sâu lắng, hấp dẫn và lôi cuốn: “lấn về phía những nấm đất/ cỏ dại không cất thành lời/ phía ấy/ chưa bao giờ được đền bù sòng phẳng” (Phía im lặng)… Lê Hồng Khánh lặng lẽ hơn, cả trong những bài báo nghiên cứu về văn hóa và cả trong thơ. Đôi lúc, tôi có cảm giác chính thơ gợi cho người ta nhớ hơn về Lê Hồng Khánh. Làm văn hóa nên thơ Khánh lắng đọng và rất có tình: “Ở đây danh lợi chẳng màng/ Đội trời đạp đất hiên ngang với đời/ Thương nhau chẳng tỏ thành lời/ Mến nhau một chén rượu mời chia đôi” (Cà Mau)… Trẻ nhất trong số các nhà báo có mặt trong tuyển tập thơ chính là Ngọc Toàn. Anh chàng phóng viên Thanh niên nhanh nhạy và có bề ngoài rất “tươi tỉnh, trắng trẻo, thảnh thơi” này, đôi lúc, người mới gặp, có cảm giác khó thành nhà thơ. Vậy mà, chơi với Toàn, tiếp xúc với Toàn, chính cái chân, cái tình lắng đằng sau những sự kiện, số liệu báo chí tạo nên một u uẩn thơ nằm ẩn phía sau của tất cả vẻ bên ngoài: “Em vô tư, em hờ hững quá chừng/ để cánh nhạn không về phương ấy nữa” (Cho một người đi xa). Toàn còn trẻ, mong đừng để thơ cũng bay như cánh nhạn không về, vì cuộc đời này không phải “em” nào cũng “hờ hững, vô tư quá chừng” như thể …

 

Vậy là, tôi đã làm cái việc là điểm xuyết hết cả 17 nhà báo làm thơ trong tuyển tập “Dọc đường thơ”. Tất nhiên, họ chỉ là những đại diện cho những nhà báo làm thơ ở Quảng Ngãi, chứ tôi tin là thơ của cánh nhà báo anh em ta còn nhiều người nữa chứ không dừng lại ở đây. Nếu để ý, bạn đọc sẽ thấy, trong bài viết này, ở mục 2, tôi phẩm bình theo dòng tuổi tác của các nhà báo để người đọc có cái nhìn tổng thể về các thế hệ báo chí quê hương mình từ người lớn tuổi nhất (Vũ Hải Đoàn) cho đến người trẻ tuổi nhất (Ngọc Toàn), cũng như từ những nhà báo, nhà thơ tên tuổi vang lừng cả nước đến những tuổi tên vừa đủ để người đọc nhớ trong phạm vi một vùng, một tỉnh…

Làm báo, đôi lúc không tránh khỏi chuyện phàn nàn nhau về bài viết này, bài viết nọ; hoặc về nội dung bài báo này bài báo nọ, về nhuận bút cao, nhuận bút thấp… trong nội bộ anh em. Nhưng với thơ, có lẽ, thơ vô tư hơn, đã làm thơ chỉ có tình thơ, chỉ có thơ hay và thơ chưa hay. Tôi đã cố đọc kỹ và cảm nhận bằng rung động thơ của lòng mình để tìm ra cái lõi trầm thơ của từng người (tất nhiên chỉ trong phạm vi một tuyển tập và vài bài thơ mới công bố gần đây). Mà phàm… đã là cảm nhận thơ thì rất độc đoán và lời phẩm bình cũng rất cá nhân chủ quan, nếu có điều gì chưa hài lòng, mong anh em và người đọc lượng thứ…

 

                                                                        Quảng Ngãi, mưa giông đầu tháng 5/2010

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: