Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

    Winter Paradise

    Peek

    Selsey Life Boat Station

    Boiling sky

    Squirrel in the undergrowth D50_9462.jpg

    Flares...

    ❤️Polar Bear Taxi... [EXPLORED]

    ospreyflt1-3

    Compass Plant (Silphium laciniatum)

    Petit azuré

    Thêm
  • Tổng lượt xem

    • 447,548 Lượt

Trên quê hương ngày xưa- Đào Đức Nhuận

Posted by thinhanquangngai1 trên 11/11/2011

TRÊN QUÊ HƯƠNG NGÀY XƯA

(VIẾT VỀ TỤC NGỮ CA DAO QUẢNG NGÃI)

Tác giả: Đào Đức Nhuận

Có người bảo “Quảng Ngãi hay co” (tục ngữ), và họ cho đó là điều không tốt.

Lại có người bảo “Quảng Ngãi đãi ra sạn” (tục ngữ), và họ cũng cho đó là điều không tốt.

Tôi nghĩ khác. Tổ tiên của người Quảng Ngãi một phần là “tội đồ” của chính quyền phong kiến bị đày vào vùng đất ngoại biên này để làm phên giậu cho đất mẹ ở phía bắc. Hạng “tội đồ” này phần lớn là những người chống đối sự cai trị hà khắc  của triều đình. Một phần khác trong số họ là binh lính đi theo các quan cai trị trấn đóng vùng đất mới chiếm của Chiêm Thành. Chẳng hạn như binh lính dưới quyền của Trấn Bắc Quận Công Bùi Tá Hán (1496-1568). Nhóm “tội đồ” lúc nào cũng mang trong người dòng máu “phản kháng”. Nhóm binh lính lúc nào cũng mang trong người dòng máu “can cường”. Dòng máu “phản kháng” đó, dòng máu “can cường” đó luôn luôn chảy trong huyết quản của người dân Quảng Ngãi. Nó sẽ bùng lên mỗi khi bị chèn ép. “Co” là nguồn chủ lưu của dòng máu “phản kháng” và “can cường” đó.

Quảng Ngãi ngày xưa nghèo lắm. Chính sử quan triều Nguyễn cũng đã xác nhận trong Đại Nam Nhất Thống Chí : “Quảng Ngãi đất xấu, dân nghèo, tính tình kiệm ước. . .”

Không “đãi ra sạn” làm sao được một khi nợ áo cơm  vẫn ngày đêm giằng thúc con người ! Một số trong chúng ta thường đánh giá “đãi ra sạn” theo cái nhìn phiến diện của người ngày nay. Nhưng nếu chúng ta chịu đặt mình vào vùng đất nghèo nàn này khoảng một trăm năm về trước, và lùi xa hơn nữa, chúng ta sẽ hiểu tại sao tổ tiên của chúng ta đã phải “đãi ra sạn”.

Quảng Ngãi nằm trong một địa thế luôn luôn phải hứng chịu  những thiên tai, nhiều khi đến khủng khiếp. Có lẽ không năm nào đất Quảng không có giông bão hay lụt lội. Đất đai thì cằn cỗi vì đầy những núi và đồi. Thực vậy, Quảng Ngãi là một dải đất hẹp nằm ép giữa rặng Trường Sơn và biển Đông. Từ Dốc Sỏi, địa đầu phía bắc Bình Sơn giáp với Quảng Nam vào đến đèo Bình Đê, địa đầu phía nam Đức Phổ giáp với Bình Định, có biết bao nhiêu là núi cùng đồi nhô lên giữa các cánh đồng hẹp: nào Trà Quân, Tham Hội, Thình Thình . . . ở Bình Sơn, nào núi Tròn, núi Sứa, Long Đầu, Thiên Ấn . . . ở Sơn Tịnh, nào Phú Thọ, Thiên Bút, La Hà, An Đại . . . ở Tư Nghĩa, nào Đình Cương, Đầu Tượng . . . ở Nghĩa Hành, nào núi Vom, Ông Đọ, Văn Bân . . . ở Mộ Đức, nào núi Dâu, núi Dàng . . . ở Đức Phổ . . .

Những ngọn núi, những đường đèo trên quê hương đó một phần đã được ghi lại bằng những câu ca dao ngọt lịm tình người :

Núi Thình Thình, chùa cũng Thình Thình

Ai lên tới đó cho mình hỏi thăm :

Vì đâu nên tiếng, nên tăm

Để cho miếng đất nghìn năm thình thình!

Đây là ngọn núi nằm về phía nam quận Bình Sơn. Trên núi có ngôi chùa mang tên Viên Giác Tự, nhưng dân địa phương vẫn gọi bằng cái tên dân dã quen thuộc: Chùa Thình Thình. Sở dĩ có tên gọi nầy là vì ở về phía tây ngôi chùa có một khoảng đất rộng, mỗi khi có bước chân người đi trên đó nghe như có âm vang “thình thình” vọng lên từ lòng núi.

Vào miền tây Sơn Tịnh ta có:

Sơn Tịnh có núi Chân Trâu,

                        Có bàu Ông Xá, có cầu Rừng Xanh 

Từ đây đi về phía đông ta có:

                        Sông Trà có núi Long Đầu,

                        Nước kia chảy mãi, rồng chầu ngày xưa.

Núi Long Đầu, dân gian vẫn gọi là núi Đầu Rồng, là phần nối dài của dãy Tham Hội khởi đi từ phía nam huyện Bình Sơn, nhấp nhô như hình một con rồng đang trườn mình về phía nam băng qua huyện Sơn Tịnh, vào đến sông Trà Khúc thì đầu rồng thả vòi xuống sông hút nước: núi Đầu Rồng. Núi Đầu Rồng (Long Đầu) có liên hệ tới câu chuyện “Cao Biền Trảm Long” và đã để lại câu tục ngữ:

                        Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non.

Nằm về phía tây Long Đầu một đoạn đường dài là núi Tròn, và về phía đông một đoạn đường ngắn là núi Thiên Ấn mà ngày xưa dân gian vẫn quen gọi bằng cái tên nôm na: núi Hó.

Sớm mai xuống Quán Cơm

Thấy hòn núi Hó

Chiều về Đồng Có

Nhìn ngọn núi Tròn

Về nhà than với chồng con

Ra đi gan nát, dạ mòn vì đâu?!

            Núi Tròn (Viên sơn) còn có tên là núi Bìn Nin. Ngày xưa trên núi nầy có nhiều khỉ sinh sống, dân địa phương vẫn thường gọi là khỉ Bìn Nin.

Núi Hó tức núi Thiên Ấn. Ngày xưa núi Thiên Ấn được bao phủ bởi một rừng tranh, những vùng tranh non có màu xanh mướt, những vùng tranh già ngả sang màu vàng đất. Đứng từ xa nhìn về Thiên Ấn thấy những mảng màu xanh vàng lấp loáng bên nhau dưới ánh mặt trời trông thật ngoạn mục. Rừng tranh Thiên Ấn đã trở thành “vật chứng” cho câu chuyện tình yêu của người bình dân Quảng Ngãi:

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh 

                        Liều mình lén mẹ theo anh phen này . . .

Hay:     Bao giờ núi Ấn hết tranh

                        Sông Trà hết nước anh mới đành xa em

Thiên Ấn được xem là “Đệ nhất danh thắng” của Quảng Ngãi. Trên núi, ngoài ngôi chùa Thiên Ấn rất nổi tiếng, còn có ngôi mộ của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng (1875-1947).

Thiên Ấn là một hòn núi khá đẹp và có lẽ trên hành tinh của chúng ta ít có ngọn núi nào có hình dáng tuyệt vời như hòn Thiên Ấn. Từ tứ phương tám hướng, đứng ở bất cứ nơi nào nhìn về, Thiên Ấn cũng mang một hình dáng duy nhất: hình thang cân. Có lẽ do đó mà nó được mang cái tên thật xứng đáng: Thiên Ấn (cái Ấn của Trời).

Chùa Thiên Ấn được xem là ngôi chùa đầu tiên tại Quảng Ngãi nên chùa vẫn được gọi là Tổ Đình Thiên Ấn. Tổ Đình Thiên Ấn nguyên là một ngôi thảo am được thiền sư Pháp Hóa (1670-1754) cho xây cất vào năm ất hợi (1695) và đến năm đinh dậu (1717), sau khi chùa đã được trùng tu, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) đã ban biển ngạch “Sắc tứ Thiên Ấn tự” và thiền sư Pháp Hóa được tôn phong là Đệ Nhất Tổ. Và từ đây, tên của ngôi chùa đã đi vào thơ ca dân gian:

Con mèo trèo lên tấm vách

Con chó dưới ngạch ấm ách chó tru

Thương anh kẻ oán, người thù

Lên chùa Thiên Ấn mà tu cho rồi!

Hay:     Qua chùa núi Hó

Thắp bó nhang vàng

Xin cho bạn cũ lai hoàn như xưa…

Cạnh chùa có giếng nước sâu trên 20 thước. Tương truyền khi thiền sư Pháp Hóa phát nguyện cho đào giếng thì có một nhà sư trẻ đến chùa xin tá túc và tiếp tay đào giếng với thiền sư. Đến khi giếng có nước, nhà sư trẻ cũng biến đi đâu mất, không ai biết tăm dạng nơi đâu. Thế nên dân gian còn lưu truyền câu ca dao:

Ông thầy đào giếng trên non

Đến khi có nước không còn tăm hơi.

Nằm về phía bắc tỉnh lỵ, trên tả ngạn con sông Trà Khúc là danh thắng “Thiên Ấn niêm hà”, thì về phía nam tỉnh lỵ, đối diện với Thiên Ấn là ngọn Thiên Bút, ngọn núi cũng đã được tuần vũ Nguyễn Cư Trinh chọn làm một trong 10 thắng cảnh của Quảng Ngãi: “Thiên Bút phê vân” (Bút trời vẽ mây):

Ai về núi Bút, Quán Đàng

Núi bao nhiêu lá, dạ thương chàng bấy nhiêu.

Vào năm 1751, khi giữ chức Tuần Vũ Quảng Ngãi, Đạm Am Nguyễn Cư Trinh (1716-1761) đã nhìn núi La Hà thuộc huyện Tư Nghĩa như một thắng cảnh và căn cứ theo một câu chuyện dân gian xa xưa, ông đã đặt cho nó cái tên được lưu danh cho đến ngày nay: La Hà Thạch Trận.

La Hà Thạch Trận là đây

                        Bốn phương tứ hướng đá xây trận đồ !

Tiếc thay dấu tích “đá xây trận đồ” ngày xưa đã bị bàn tay của con người ngày nay phá đi gần hết bởi cái nạn “chẻ đá” để lấy đá làm móng nền nhà!

Lần về phía đông ta lại gặp :

Tư Nghĩa cửa Đại là đây

Gành Hào, núi Quế đá xây nên chùa

Dưới thời bông súng nở đua,

Ngó lên trên chùa đá dựng, kiểng giăng.

Ngó quan bên xóm Trường An

Ngó xuống hòn Sụp cát vàng soi gương.

Vào Đức Phổ ta gặp núi Xương Rồng:

Quê em có núi Xương Rồng,

                        Có cửa Mỹ Á, có sông Thủy Triều.

Lên miền tây ta lại gặp núi Quẹo được dân gian ghi lại bằng những vần ca dao thật tài tình:

Sáng mai anh thức dậy

Anh xách cái rựa quéo

Anh lên hòn núi Quẹo

Anh đốn cây củi còng queo!

Anh than với em cha mẹ anh nghèo,

Đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum!

Nhum là một loại hải sản có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo địa phương và người ta đã căn cứ theo hình thù của con nhum mà đặt tên: con chôm chôm, con cầu gai, con nhím biển. Sở dĩ con nhum có tên gọi như thế vì thân nó có gai nhọn như gai bồ kết. Ngày xưa dân Phổ Châu thuộc huyện Đức Phổ thường làm lắm nhum để dâng vua nên mắm nhum còn được gọi là  “mắm  vua” hay “mắm tiến”.

Núi đồi nhiều thì đường đèo cũng nhiều.

Ở Mộ Đức ta gặp đèo Đồng Ngổ:

Đèo nào cao bằng đèo Đồng Ngổ

Bộ nào rộng bằng bộ An Ba.

Thấy anh ăn nói thật thà

Muốn vô gầy dựng cửa nhà cùng anh.

Ở Đức Phổ ta gặp đèo Sơn Cốc, đèo Mỹ Trang:

Đèo nào cao bằng đèo Sơn Cốc

Dốc nào ngược bằng dốc Mỹ Trang

Một tiếng em than hai hàng lụy nhỏ

Phụ mẫu già rồi biết bỏ cho ai!

Ở Nghĩa Hành ta gặp đèo Eo Gió:

Đèo nào cao bằng đèo Eo Gió,

Cỏ nào xanh bằng cỏ Hố Cua

Bao giờ cho đến gió mùa

Trèo đèo, vượt suối dám đua bạn cùng!

Thuở xưa, đường thiên lý Bắc-Nam chỉ là một con lộ đắp bằng đất, nhiều đoạn phải vượt đèo, băng sông, nhiều đoạn khác phải luồn lách qua những truông dài, rừng rậm. Bọn thảo khấu thường lợi dụng những đoạn đường nầy để làm địa bàn hoạt động, cướp bóc khách bộ hành.

Để nói lên nạn thảo khấu nầy, dân gian miền bắc Trung Phần đã từng truyền tụng câu ca dao:

Đường vô xứ Huế quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Yêu em anh cũng muốn vô

Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang . . .

Đoạn đường thiên lý Bắc Nam chạy ngang qua địa phận Quảng Ngãi ta ngày xưa cũng gặp phải nạn thảo khấu tương tự:

Đưa anh về Quảng em lo

Ao Vuông là một, Ba Gò là hai.

Kiêng dè trong buổi hôm mai

Đàng trong ổ cướp, đàng ngoài hùm beo.

Hay:     Cách sông nên phải lụy đò,

                        Cách truông Ba Gò nên phải lụy anh !

            Hay:     Cách sông khó lội

Phải đợi có đò

Qua truông Ba Gò

Phải chờ có bạn

Ao Vuông ngày xưa thuộc miền bắc Bình Sơn. Truông Ba Gò nằm giữa địa phận hai quận Bình Sơn và Sơn Tịnh. Xưa nơi đây là vùng cỏ cây rậm rạp, bọn thảo khấu mặc sức tung hoành!

Quảng Ngãi là vùng lắm núi, nhiều rừng. Dân chúng miền cận sơn phải thường xuyên đối phó với nạn phá hoại của thú rừng. Dân chúng Mộ Đức còn truyền tụng câu:

Phèng la xóm Bầu,

Trống chầu Thi Phổ,

Mõ gỗ Thuận Yên.

Xóm Bầu thuộc xã Đức Hòa, có con mương Bà Hệ là mạch sống của dân làng. Vào mùa mưa lũ, con mương đầy phù sa. Sau mùa lũ, dân làng phải vét mương để đem nước vào ruộng. Phèng la là tiếng báo hiệu cho dân làng biết mỗi khi cần tập trung để vét mương.

Thi Phổ thuộc xã Đức Tân lại có tiếng trống chầu nhằm thúc giục, cổ võ dân làng đắp đập hay sửa đập Thi Phổ trước mùa mưa lũ và đặc biệt là báo động cho dân làng mỗi khi con đập sắp bị nước lũ xoang. Dân Thi Phổ còn truyền câu:

Dù ai tế lễ nơi đâu,

                        Ngũ liên Thi Phổ mau mau trở về

Ngũ liên tức 5 hồi trống liên tục báo hiệu con đập sắp bị nước xoang!

Làng Thuận Yên thuộc xã Đức Phú có 3 mặt giáp với núi đồi trùng điệp. Tuy là một vùng cận sơn hẻo lánh nhưng đất đai màu mỡ nên dân chúng kéo nhau về đây sinh sống mỗi ngày mỗi đông. Tai nạn thường trực của dân làng Thuận Yên chính là mãnh thú: cọp, heo rừng, voi . . .Tiếng mõ được phân biệt để dân làng biết mà đối phó. Cái mõ đối với dân làng Thuận Yên thật cần thiết và cũng thật mầu nhiệm :

Ai về thăm xứ Thuận Yên

                        Vang vang tiếng mõ là kiêng dân làng.

Hay:     Ông mõ lẫm liệt oai phuông

                        Ông kêu thú dữ tìm đường cút xa !

Đất Quảng Ngãi tuy nghèo nhưng cũng đã sản sinh ra nhiều đặc sản đáng trân quý :

Chim mía Xuân Phổ

Cá bống sông Trà

Kẹo gương Thu Xà

Mạch nha Thi Phổ.

Ngoài nông sản chính là lúa, người nông dân Quảng Ngãi còn sống nhờ vào nguồn lợi trồng mía và đã sản xuất nhiều loại đường đặc sản như đường phèn, đường phổi – những đặc sản của vùng Ba La, Vạn Tượng thuộc huyện Tư Nghĩa:

– Bậu về nhớ ghé Ba La

                        Mua cân đường phổi cho ta với mình

– Đi qua lò mía thơm đường

Muốn vô kết nghĩa cang thường cùng ai !

Làng Xuân Phổ thuộc xã Nghĩa Thuận (Tư Nghĩa) nằm sát bờ phía nam sông Trà Khúc trồng rất nhiều mía. Hàng năm, vào cuối Thu sang Đông, khi mía đã bắt đầu trổ cờ, vào những lúc chạng vạng, từng đàn chim hàng ngàn con gồm có: chim chéo, chim chìa vôi, chim áo già, chim dồng dộc . . . sà xuống những cánh đồng mía để ngủ qua đêm. Dân chúng dùng lưới vó để bắt chim. Loại chim mía nầy thường được đem nướng để làm món nhậu thật tuyệt.

Sông Trà Khúc có loại cá bống thật ngon, đó là cá bống cát. Xưa đất Quảng Ngãi ta nổi tiếng về món cá bống kho tiêu:

Anh đi anh nhớ quê nhà

                        Nhớ món cá bống sông Trà kho tiêu !

Hay:     Đi đâu cũng nhớ Thu Xà

                        Nhớ mùi cá bống mặn mà hương tiêu !

Món cá bống kho tiêu ngon lành làm vậy nên có nhiều chàng trai đã tìm cách trêu chọc các cô :

Bậu ra bậu lấy ông câu

Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu.

Kho tiêu, kho ớt, kho hành,

Kho ba lạng thịt để dành mà ăn !

Nói đến đặc sản của sông Trà Khúc, ngoài món cá bống, cá thài bai, còn có món “don”, một món ăn đặc biệt Quảng Ngãi cũng thật hấp dẫn. Don là một loại hến đòn xóc, chỉ sinh sản ở vùng nước chè hai trên đoạn sông từ Nghĩa Dõng (thành phố Quảng Ngãi) xuống đến gần cửa biển. Đây được xem là quê hương duy nhất của loài “don”. Ăn một tô don nóng hổi, dằm một trái ớt sim, vừa ăn vừa hít hà . . . thú tuyệt !

Thế nên ta mới thường nghe câu ca dao :

Cô gái lòng son,

                        Không bằng tô don Vạn Tượng !

Thực ra Hiền Lương thuộc xã Nghĩa Hà mới là nơi có món don ngon nổi tiếng. Dân địa phương cũng đã có câu ca dao nói lên sự quyến luyến của họ đối với những con người sống bằng nghề bán don:

Có nghèo, có khó,

Cũng lấy con vợ bán don

Lỡ khi nó chết cũng còn cặp ui !

Nói về đặc sản thì miền biển Đức Phổ còn lưu truyền câu:

Mắm Mỹ Á,

                        Cá Vực Tre.

Làng Cổ Lũy nằm về phía đông Tư Nghĩa ngày xưa khá nổi tiếng nhờ nó là một trong 12 thắng cảnh xưa của Quảng Ngãi : Cổ Lũy Cô Thôn. Cổ Lũy còn được nhắc nhiều nhờ vào nghề dệt chiếu:

Ai về Cổ Lũy xóm Câu

                        Nhớ mua đôi chiếu đón dâu về làng.

Đất Quảng Ngãi ta nghèo lắm, thế nhưng cũng có một vài địa phương có đời sống tương đối sung túc nhờ vào một vài loại sản phẩm đặc biệt của địa phương, chẳng hạn:

Tiếng đồn Đông Phước nhiều tre,

                        Tham Hội nhiều lúa, Châu Me nhiều tiền.

Tham Hội và Đông Phước là 2 thôn thuộc xã Bình Thanh (Bình Sơn), Châu Me thuộc xã Bình Châu (Bình Sơn).

Trong chúng ta, ai cũng yêu quê hương mình tha thiết. Trong chúng ta, ai cũng tự hào về quê hương của mình :

Củ lang mỏng vỏ, đỏ da

Ai về Long Phụng theo ta mà về.

Ai về Long Phụng thì về,

Gần sông tắm mát, chợ kề một bên.

Thôn Long Phụng thuộc xã Đức Thắng, huyện Mộ Đức, nằm ven bờ nam sông Vệ. Phổ Minh, một xã miền biển huyệnĐức Phổ cũng có câu ca dao gần tương tự:

Củ lang mỏng vỏ, đỏ da,

Em muốn về An Thổ theo ta mà về

Hải Môn với bển cùng quê,

Gần sông tắm mát, chợ kề một bên.

Thôn An Thổ nằm bên sông Trà Câu, có ngôi chợ làng tên là chợ Mới.

Ai cũng muốn khoe làng mình có chợ, có sông, bởi lẽ, người xưa đã từng đưa ra nhận xét: “nhất cận thị, nhị cận giang” (thứ nhất là ở gần chợ, thứ nhì là ở gần sông – vì những nơi nầy thuận đường đi lại, dễ sinh sống làm ăn).

Mộ Đức là huyện có nhiều cánh đồng tương đối phì nhiêu và rộng : đó là đồng Tú Sơn và đồng Chu Me:

Không đi thì mất lòng chồng,

                        Ra đi thì sợ cánh đồng Tú Sơn.

Hay:     Không đi sợ mất lòng chồng,

                        Ra đi lại sợ cánh đồng Chu Me.

Tú Sơn là cánh đồng màu mỡ. Dân Tú Sơn tương đối sung túc. Các cô con gái Tú Sơn mỗi lần chải tóc thường xức một chút dầu dừa cho đầu tóc được bóng mượt và đẹp, do đó mới có câu ca dao :

Gái Tú Sơn đầu trơn như mỡ,

                        Gạo trì trì nứt nở như ươi.

            Phủ Tư Nghĩa ngày trước có cánh đồng Ba La, nằm về phía đông tỉnh lỵ (nay thuộc địa phận thành phố Quảng Ngãi) cũng được xem là vùng trù phú:

                        Ba La thẳng tới Cù Mông

                        Chạy lên, chạy xuống cũng đồng Ba La.

            Cù Mông là tên gọi của thành Quảng Ngãi vào thời vua Minh Mạng (1820-1840), đến cuối đời vua này mới đổi thành Chánh Mông và sau nữa, đến thời vua Đồng Khánh đổi là Chánh Lộ.

Đối với những kẻ nặng tình với quê hương, mỗi địa danh là một kỷ niệm, mỗi tên gọi là một nhớ nhung:

Đi ngang qua mũi Sa Kỳ

                        Ngó ra lao Ré xiết chi thảm sầu !

Cù lao Ré là tên gọi nôm na của hải đảo Lý Sơn, nay là một huyện của tỉnh Quảng Ngãi. Phải chăng trên hòn đảo xa xôi nầy, cặp tình nhân nào đó đã hơn một lần hò hẹn, đã hơn một lần thề thốt nặng lời:

Lên núi trồng tỏi,

Xuống đất sỏi trồng hành,

Vái trời cho tỏi tốt, hành xanh,

Chàng mua, thiếp bán kết thành nợ duyên.

Vậy mà giờ đây nợ duyên không thành, khiến cho ai đó mỗi lần nhìn ra hòn đảo ngày xưa mà chợt thấy lòng mình sầu thảm !

Lý Sơn là vùng trồng hành và tỏi nổi tiếng của Quảng Ngãi, dân gian xưa thường gọi hành Lý Sơn là hành Lao tức là hành của cù lao Lý Sơn.           

Và có lẽ cũng vào một ngày xa xưa nào đó, trên chùa Thiên Ấn của hòn núi Hó quê hương cũng đã có một cặp tình nhân nào đó, cũng đã hơn một lần thề thốt nặng lời, vậy mà . . .

Qua chùa núi Hó,

Thắp bó nhang vàng,

Xin cho bạn cũ lai hoàn như xưa!

Trông trời chẳng thấy trời mưa,

Rồng đi lấy nước rồng chưa trở về.

Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê.

Lên non tìm quế, quế về rừng xanh!

Trách ai treo ngọn, thắt ngành,

Cho chàng xa thiếp, cho anh xa nàng!

Trách ai? Trách Đất, trách Trời? Trách duyên, trách phận? Trách mẹ, trách cha? Trách cho lễ giáo? Nào biết trách ai!

Tình yêu là một thử thách. Phải vượt qua mọi thử thách, mọi trở ngại để đạt mục đích cuối cùng của tình yêu:

Chẻ tre bện sáo ngăn sông,

Đến khi đó vợ, đây chồng mới hay.

Chẻ tre bện sáo cho dày,

Ngăn sông Trà Khúc đợi ngày gặp em!

Trà Khúc là tên con sông lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi, chảy qua các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh (tả ngạn), huyện Tư Nghĩa và thành phố Quảng Ngãi (hữu ngạn). Đây là con sông nên thơ đã từng gợi hứng cho thi hào Cao Bá Quát làm nên bài thơ bất hủ “Trà Giang thu nguyệt ca” (Bài ca trăng thu sông Trà).

Tình yêu là một thử thách. Không phải chỉ là thử thách của một không gian diệu vợi mà còn là thử thách của một thời gian dằng dặc :

Đồng nào sâu bằng đồng Thi Phổ,

Thổ nào cao bằng thổ Ba Tơ.

Em thương anh chín đợi, mười chờ,

Mía kia lên ngọn trổ cờ đã lâu !

Ba Tơ là tên gọi của đất An Ba ngày xưa, không phải là huyện Ba Tơ ngày nay.

Ôi! Ngày xưa một lời hò hẹn kết nghĩa đá vàng, một lời giao ước thủy chung. Vậy mà rồi “chàng âu duyên mới, nỡ phụ tình xưa”:

Bước xuống ghe nan,

Chèo sang Bến Thóc,

Vừa chèo, vừa khóc

Kêu: Bớ anh ơi!

Bây giờ duyên mãn, tình ôi,

Để cho người khác đứng ngồi với anh!

Đập Bến Thóc nằm về phía tây huyện Mộ Đức.

Nỗi ghen tuông làm cho ruột gan dường như héo hắt. Thế nhưng, dù cho ai đó có phụ tình thì nàng vẫn một mực đợi chờ:

                        Anh về Mỹ Á chi lâu,

                        Để em ôm chiếc thuyền câu một mình !

Mỹ Á là tên một cửa biển thuộc huyện Đức Phổ.

Những nàng con gái Quảng Ngãi ngày xưa sao mà chung tình làm vậy:

Đời nào bánh đúc có xương,

Dây tơ hồng có lá, nghĩa đá vàng vô tư !

Cửa Tam Quan nước cạn bày cừ,

Biển Sa Huỳnh khô tắc em mới từ nghĩa anh!

Họ luôn luôn thề nguyền một đời gắn bó keo sơn:

Thuốc ngon chợ Huyện,

                        Giấy quyến Sa Huỳnh.

                        Nẫu xa thì mược nẫu, hai đứa mình đừng xa !

Và họ luôn luôn lo lắng cho người yêu:

Đò đưa sông Vệ nghênh ngang,

                        Bạn hàng nô nức sao chàng ngồi đây?

Lo cho cả cha mẹ của người mình yêu:

Ăn chanh chíp miệng chua chua,

Em đưa anh cho đến Chợ Chùa xa xa.

Mảng lo cha yếu mẹ già,

Đặt chân xuống đất con nhạn đà trở canh !

Nhớ người yêu là chuyện đã đành. Nhớ cha, nhớ mẹ cũng là chuyện đã đành. Mà nỗi nhớ quê hương sao cũng ray rứt lòng người:

Nhớ ai như nhớ Nghĩa Hành,

Nhớ phiên Tam Bảo không đành không đi.

 

Chợ phiên ngày bảy, ngày hai,

Không đi thì nhớ, đi hoài mỏi chân!

Chợ phiên Tam Bảo được xem là phiên chợ lâu đời nhất của tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Đây là phiên chợ quy tụ những con buôn và khách hàng là người Kinh và người sắc tộc Hre. Tương truyền chợ phiên Tam Bảo xuất hiện từ trước thời vua Tự Đức (1848-1883). Phiên chợ chính thức họp tại Kim Thành Hạ thuộc quận Nghĩa Hành. Mỗi tháng chợ họp 2 phiên vào ngày mồng 2 và ngày mồng 7 âm lịch, sau tăng lên 6 phiên, vào các ngày mồng 2, 12, 22 và mồng 7, 17, 27.

Là người dân ở miền nam Quảng Ngãi, ai mà không nao nao tấc lòng mỗi khi nghe nhắc đến những tên gọi quen thuộc thân thương qua bài ca dao sau đây:

Kể từ Sông Vệ, Chợ Gò,

Ngó vô Thi Phổ thấy đò Dắt Dây.

Chợ Đồng Cát buôn bán sum vầy,

Ngó vô Lò Thổi thấy cây sùm xòa.

Tú Sơn một đỗi xa xa,

Ngó vô Quán Sạn bạn hàng đà nghỉ ngơi.

Chợ Huyện là chỗ ăn chơi,

Ngó vô Quán Vịt là nơi hữu tình.

Trà Câu sao vắng bạn mình,

Hai hàng châu lụy như bình nước nghiêng !

Và tâm tình của người dân miền bắc Quảng Ngãi nào có khác gì mỗi khi nghe nhắc đến những cái tên đã hơn một thời ray rứt lòng người:

Cò bắt lươn cò trườn xuống cỏ

Lươn bắt cò, cò bỏ cò bay

Từ ngày xa bạn đến nay

Đêm đem tưởng nhớ, ngày ngày ngày trông luôn

Kể từ Bến Ván, Ao Vuông

Bước qua Quán Ốc lòng buồn lụy sa

Quán Cơm nào quán, nào nhà

Ngóng ra Trà Khúc trời đà rạng đông

Buồn lòng đứng dựa, ngồi trông

Ngó vô Hàng Rượu mà không thấy chàng!

Và những ai đã từng lênh đênh trên biển cả, ra Bắc vào Nam với những tay lưới nghề quen thuộc mà không thấy lòng nôn nao khác thường mỗi lần nghe bài ca thủy trình sau đây:

.   .   .   .   .   .

Sa Cần, Châu Ổ bao xa

Ngoài mũi Cây Quýt thiệt là Tổng Binh.

Lâm châm cỏ ngựa trời sinh,

Làng Gành, Mỹ Giảng ăn quanh Vũng Tàu.

Nới lèo ráng lái mau mau,

Ngước mắt xem thấy Bàn Thang,

Ngoài thời lao Ré nằm ngang Sa Kỳ.

Quảng Nghĩa Trà Khúc núi chi?

Có hòn Thiên Ấn dấu ghi để đời.

Hòn Sụp ta sẽ buông khơi

Trong vịnh, ngoài vời núi đất mênh mang.

Buồm giăng ba cánh sẵn sàng,

Anh em chúng bạn nhiều đàng tư lương.

Mỹ Á, cửa Cạn, Hàng Thương

Chạy hết Bãi Trường xích thố bang băng.

Ngước ra khỏi mũi Sa Hoàng (Sa Huỳnh)

Kìa kìa ngó thấy Tam Quan nhiều dừa. . .

Trên đây là những địa danh nằm dọc theo bờ biển Quảng Ngãi từ từ địa đầu phía Bắc với cửa Sa Cần còn gọi là cửa Thể Cần vào địa đầu phía Nam với cửa Sa Huỳnh.

Quảng Ngãi tuy nghèo nhưng “học trò thì tư chất thông minh, nhiều kiến thức”(Đại Nam Nhất Thống Chí – Quảng Nghĩa Tỉnh). Do đó, vào thời Nho học còn được trọng dụng, tỉnh nầy đã có nhiều người đỗ đạt cao, đặc biệt là từ khi nhà Nguyễn cho lập trường thi Bình Định thì sĩ tử Quảng Ngãi đã có nguồn hứng để thi nhau dùi mài kinh sử.

Năm Tự Đức thứ 3 (Canh Tuất, 1850), nhà vua cho lập trường thi Bình Định giành riêng cho sĩ tử từ Quảng Ngãi đến Khánh Hòa, và sau đó cho cả Bình Thuận và Ninh Thuận.

Khoa hương thí đầu tiên được tổ chức vào năm Nhâm Tý (1852). Khoa nầy và 2 khoa kế tiếp, sĩ tử Bình Định đoạt thủ khoa, sĩ tử Quảng Ngãi chỉ đạt chức á khoa. Do đó tại Bình Định xuất hiện câu ca dao:

Tiếc công Quảng Ngãi đường xa,

                        Để cho Bình Định thủ khoa ba lần !

Sĩ tử Quảng Ngãi “hận” lắm. Họ cố dồi mài kinh sử. Quả nhiên, đến khoa Mậu Thìn (1868) và khoa Canh Ngọ (1870), sĩ tử Quảng Ngãi giành được cả 2 chức thủ khoa và á khoa. Do đó lại xuất hiện câu ca dao sau đây:

Tiếc công Bình Định xây thành

                        Để cho Quảng Ngãi vô giành thủ khoa !

Truyền thống hiếu học đó cũng đã sản sinh ra những vị quan danh tiếng của triều đình phong kiến. Chính các sử quan triều Nguyễn cũng đã nhận xét: “Địa thế tuy hẹp mà khí mạch tốt, nên đời nào cũng có nhiều người làm đến quan to chức trọng . . .” (Đại Nam Nhất Thống Chí – Quảng Nghĩa Tỉnh). Cái “khí mạch” đó đã sản sinh ra những vị quan danh tiếng một thời như Phan Khắc Thận người Bình Sơn, Trương Đăng Quế người Sơn Tịnh, Tạ Tương người Tư Nghĩa, Nguyễn Bá Nghi người Mộ Đức . . . Đáng lưu ý nhất là dòng họ Trương ở xã Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh với Trương Đăng Quế là người Quảng Ngãi đầu tiên đậu Hương cống (tức Cử nhân) dưới đời vua Gia Long, sau ra làm quan to trải các triều Minh Mạng (1820- 1840), Thiệu Trị (1841- 1847) và Tự Đức (1848- 1883). Về sau con cháu của ông cũng nhiều người làm quan to trong triều ngoài quận, do đó dân gian địa phương đã truyền tụng câu ca dao :

Bao giờ thiện mã qua sông

                        Thì thôn Mỹ Lại mới không công hầu !

Thôn Mỹ Lại thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh nơi có bãi biển Mỹ Khê khá thơ mộng.

Sống trong một vùng đất nghèo nàn, cằn cỗi, “ăn bữa trưa, chừa bữa tối”, họ phải bòn mót tùng hạt lúa rơi, từng củ khoai sót . . . để thêm vào với số lương thực ít ỏi đã sản xuất được :

Khoai lang Đồng Ngổ,

                        Đỗ phụng Đồng Dinh

                        Chàng bòn, thiếp mót đổ chung một gùi.

Đồng Ngổ thuộc xã Đức Minh, huyện Mộ Đức, Đồng Dinh thuộc thị trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành.

Thậm chí có nơi người nông dân còn phải dùng cả phân người để làm chất dinh dưỡng cho thực vật. Có nhìn thấy cái cảnh người dân Cà Đó thuộc xã Đức Minh (Mộ Đức), nhất là giới phụ nữ, kĩu kịt đôi giỏ ki trên vai, đi xa khỏi làng hàng vài ba chục cây số, lang thang trong các cánh đồng vắng còn trơ gốc mía hay gốc rạ để gắp từng cục phân người đem về làm phân bón cho cây thuốc, ta mới thấy hết cái nỗi khổ của người dân quê xứ Quảng!

Ai về Cà Đó

Chịu khó xách ki

Tay cầm đôi đũa, chân đi lòm khòm !

Đời sống tuy có thiếu thốn, vất vả như thế, nhưng người đân Quảng Ngãi vẫn luôn luôn ung dung tự tại, nhiều khi còn biết dùng sự hài hước để mua vui cho quên đi  bao nỗi nhọc nhằn trong cuộc sống hằng ngày.

Những thể điệu dân ca miền Ấn Trà, đặc biệt là giọng hát “hố”, như có cái ma lực ghê gớm để quyến rũ lòng người:

Tai nghe tiếng hố vọng đồng,

                        Ai có con cũng bỏ, ai có chồng cũng vong!

Hay:     Em đang so đũa dọn cơm

Tai nghe hát hố đầu hôm trên này

Ra đi cha đánh, mẹ rầy

Không đi bạn ở trên này bạn trông

Ra đi lội suối, băng sông

Tới đây mến bạn lòng không muốn về.

Những giọng hố, giọng hò vang lên trong những đám thợ cấy, quanh những cối gạo, giữa đám trai gái cho hàng ăn mía, giữa những đôi nam nữ tát nước đêm trăng . . . đã chuyên chở và lưu truyền bao nhiêu là câu ca dao chan chứa tình người. Họ hát đối đáp với nhau  để gửi tình trao duyên, và đôi khi cũng để chòng ghẹo nhau cho quên đi nỗi mệt nhọc trong khi lao động! Sau mỗi khúc hát là những tiếng cười đưa duyên, và cũng có thể là những tiếng cười xuề xòa, giả lả như để xóa tan đi những hờn giận vu vơ:

Ba La đất tốt trồng hành

Đã xinh con gái, lại lành con trai.

Vạn Tượng những chông cùng gai,

Con gái mốc thếch, con trai đen sì!

Ba La và Vạn Tượng nguyên là 2 thôn của phủ Tư Nghĩa; nay Ba La thuộc xã Nghĩa Dõng, Vạn Tượng thuộc xã Nghĩa Dũng của thành phố Quảng Ngãi.

Hay:     Hải Môn ăn cá bỏ đầu,

                        Tân Tự lượm được xỏ xâu xách về!

Hải Môn và Tân Tự là 2 thôn thuộc xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ.

Họ cũng lấy làm thích thú trong cách chơi chữ ngộ nghĩnh:

Gái Thanh Khiết chuyên nghề “cải giá”,

                        Trai Sung Tích chuyên nghề “kén dâu”.

Thanh Khiết thuộc xã Nghĩa Hà (Tư Nghĩa). Dân vùng nầy sống bằng nghề sản xuất rau sống – trồng cải và làm giá đậu xanh. Bên kia sông trên bờ phía bắc là làng Sung Tích thuộc xã Tịnh Long (Sơn Tịnh). Dân ở đây xưa làm nghề trồng dâu, nuôi tằm. Cải giá vừa có nghĩa rau cải, rau giá, lại vưà có nghĩa “có chồng lần nữa!”. Kén dâu vừa có nghĩa là con kén và lá dâu tức nghề trồng dâu nuôi tằm lấy tơ kén  để dệt lụa, lại vừa có nghĩa “kén chọn cô dâu!”.

Và cũng thật là ngộ nghĩnh trong cách trả lời “ỡm ờ” nước đôi:

– Hỏi thăm chú bán cót bán quynh

Thấy ngoài Bến Ván, Trì Bình gặt chưa?

– Bến Ván bán tới Quán Cơm

Gặt chưa không biết, thấy hai cây rơm ú ù!

Người hỏi chắc là một cô gái nên mới có câu trả lời “thấy hai cây rơm ú ù”! Chỉ có “hai cây rơm” thôi chứ không nhiều!

Và cách chơi chữ của họ cũng thật thần tình:

Sáng mai anh thức dậy

Anh xách cái rựa quéo

Anh lên hòn núi Quẹo

Anh đốn cây củi còng queo

Anh than với em cha mẹ anh nghèo

Đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum.

Những vần “quéo, quẹo, queo, quèo” nghe sao như một trắc trở khó lòng vuợt qua như tâm tình của một chàng trai nghèo không vượt nổi bức tường thành giàu nghèo trong hôn nhân!

Lượng Tục ngữ Ca dao của quê hương núi Ấn sông Trà nhiều lắm. Ở đây người viết chỉ chọn những câu ghi lại địa danh của từng vùng thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Lượng ca dao nầy có lẽ còn nhiều, nhưng vì tài liệu sưu khảo có ít, sức hiểu biết của người viết cũng có ít, nên bài viết chắc còn nhiều thiếu sót, rất mong được lượng thứ.

Đ.Đ.N

Advertisements

Một phản hồi to “Trên quê hương ngày xưa- Đào Đức Nhuận”

  1. NSD said

    Ca dao quê mình hay quá. Cảm ơn tác giả đã nhiều công sưu tập, cảm ơn TNQN.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: