Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 510 486 Lượt

Archive for the ‘03. Bình thơ’ Category

Các bài cảm nhận, bình thơ có nội dung liên quan đến đất và/hoặc người Quảng Ngãi.

Ngã Du Tử viết NGUYỄN CHÂU VỚI DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY

Posted by thinhanquangngai1 trên 10/04/2018

NGUYỄN CHÂU VỚI DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY
Ngã Du Tử
Cuối năm Đinh Dậu, tôi được anh Nguyễn Châu tặng tập truyện ngắn DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY. Bạn văn chơi với nhau ai có tác phẩm ra đời là cùng chia vui với nhau, bởi tất cả công sức và trí lực đầu tư vào đứa con mình mong đợi từ viết, biên tập đến xin giấy phép và in ấn.Nhưng duyên phận mỗi tác phẩm được định đoạt bởi độc giả chứ không phải người sinh ra nó, với người viết chân thành sẽ cố gắng hết mình, hầu mong được nó khôi ngô và được đón nhận, ấy là quý hóa rồi.
Nhà văn Nguyễn Châu cũng vậy, anh đã viết khá lâu từ những thập niên trước, tuy nhiên anh thầm lặng và từ tốn nên không ồn ào trong giới văn ngày nay.
Ai trong thế hệ anh, cũng bị ảnh hưởng của cuộc chiến dai dẳng có thể nói dài nhất trong nửa cuối thế kỷ 20 của một quốc gia Đông Nam Á. Vì vậy ký ức một thời được anh trân trọng lưu giữ và chậm rãi viết lại.
DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY với 64 truyện ngắn như thước phim đời anh đã chứng nghiệm, từ Cái đồng hồ, Nghèo, Người cha đến Trơ đáy, Chứng nghiệm chủ đề chính là Dòng sông trơ đáy, và cuối cùng là “Khung trời không bình yên” mỗi chuyện có cách diễn đạt khác nhau và cảm thụ là của bạn đọc.
Sách in đẹp, tao nhã do Quán Văn thực hiện, bìa của họa sĩ Đinh Cường, trình bày là nhà văn Nguyên Minh khá chuyên nghiệp, do NXB Hội nhà văn cấp phép in ấn, vì vậy cảm nhận của tôi tương đối bắt mắt.
Phải nói anh viết khá chấm phá, có thể làm cho người đọc nhiều thắc mắc, hầu như cái kết làm cho độc giả sẽ ngỡ ngàng, có lẽ anh muốn độc giả tiếp diễn chiều suy nghĩ của anh chăng? Để tự mình tìm thấy, đây cũng là lối trân trọng trao quyền cho độc giả, để giải quyết vấn đề mà tác giả còn bỏ lững,
Truyện NGHÈO, nói về bức tranh nơi quê nhà anh, Ông Mười Tâm là một điển hình của dòng suy nghĩ của anh với bức tranh quê thời ấy:” Ông Mười Tâm là học trò của ông nội tôi, Nho học thời vứt bút lông giắt bút chì. Ông đi lính khố đỏ, ngang lưng có thắt đai đỏ phía trong áo, Tây đã đem ông qua chiến đấu với quân Đức hồi Đệ Nhị thế chiến, ông bị trả về làm thương phế binh. Pháp cấp tiền hưu, thoát nghèo” …
Rồi lại tiếp:” Nghèo quá không có đất cắm dùi, phải làm thuê. Quê nghèo chẳng có ai thuê, đành đi mót, Mùa nào mót nấy cũng chỉ lúa sót, khoai sắn qua ngày. Hết mùa gặt chưa cày bừa cho vụ tới, những gốc rạ cọc còi đẻ lúa rài, lại đi mót “lúa rài” (Truyện NGHÈO)
Truyện “Một thời ngông nghênh” là bức tranh thời miền Nam Việt Nam của các chàng trí thức hiện sinh với các triết thuyết của Heidegger, Nietzche, J.P. Sartre, Albert Camus… hay tác giả Việt Nam như Nguyễn văn Trung, Nguyên Sa hoặc Phạm Công Thiện vv… được phản ảnh một góc nhìn qua ký ức của anh với phong trào Hippy ở thập niên 1970 của Sài Gòn khá đa sắc diện: ví như “Hắn ngấu nghiến từ “văn chương siêu hình học” của Nguyễn Văn Trung, “Nhận định đại cương triết học hiện hữu” của Nguyên Sa, “Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh của J.P. Sartre”…
Cái kết cũng làm cho độc giả khá bất ngờ, như “Một ngày, chính quyền bố ráp, đẩy bọn hắn ra chiến trường. Những trận chiến ác liệt, đạn bay súng nổ không làm hắn say máu như nghe nhạc Beatles, Jackson Five. Hắn lơ mơ theo ” imenoctan”
” Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt buồn vui cùng gái điếm
Vung tiền mua vội một ngày vui ( Thơ Bắc Sơn)
và chấm hết truyện.
Độc giả nếu đọc hết chuyện ấy, lại phải suy nghĩ, vì sao lại tức thế nầy? Không lẽ tác giả dựng nhân vật “Hắn” mang cái mác trí thức, khá lịch lãm, cặp bồ với Như Mai trường Marie Curie bề thế một thời lại thế sao, chỉ “phá phách, sớt chia vui buồn cùng gái điếm bằng cách vung tiền mua vội một ngày vui”?
Còn truyện “Tình yêu” thì sao? Tình yêu là bất biến, ai trên trần gian nầy không yêu, nhưng cách yêu mỗi người, mỗi thời một khác, anh viết truyện nầy như một tản văn, lan man trong suy tư tình yêu của mỗi thời, nhất là thời nầy các cô gái lấy chồng xa xứ, tuy sướng khổ có khác nhau nhưng có nổi niềm rất chung “Chồng gần không lấy, lấy chồng xa/ Lỡ một mai cha yếu mẹ già/ chén cơm ai đỡ, chén trà ai bưng”.
“Không có linh hồn” Tại sao vậy? dấu hỏi của tác giả và cũng như dấu hỏi của cuộc đời, lẽ nào như thế. Anh nêu ra như một nhận định của riêng anh, còn giải quyết vấn đề không phải là chuyện nhà văn mà là của độc giả và xã hội ,
Cõi thế gian nầy con người và các loài hữu tình đều có linh hồn, tại sao lại không, ấy là lẽ gì? Thế mà Nguyễn Chậu viết truyện “Không có linh hồn”, chức năng trách nhiệm của nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, viết phim… có quyền nêu ra hay đặt vấn đề, phải không các bạn? còn giải quyết ư? không phải của chúng tôi, các cây bút viết đều như thế.
Thời đại nầy có quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết, với tư cách một người cầm bút có trách nhiệm như vậy tôi nghĩ cũng đủ rồi, còn mọi giải pháp nếu được lắng nghe và có phương pháp, thì may ra xã hội mới tiến bộ bằng không thì thôi.
Truyện “Giáo Ba” thì thế nào?
Ông giáo trong bối cảnh đất nước mới thống nhất, ai ở cái thời ấy cũng hiểu vô vàn khó khăn, đói khổ, Nếu như thế rất dễ giải quyết, nhưng thân phận người thời ấy còn lắm nổi éo le, và thao thức một thời như vẫn dai dẳng trong tiềm thức.
Giáo Ba thiếu tình cha (nếu không nói không có cha), mẹ nổ lực nuôi anh khôn lớn làm ông giáo, đùng một cái cha anh tập kết về, mẹ thúc giục cha tìm con đưa về quê Quảng Ngãi, nếu Giáo Ba chỉ gục đầu mọi chuyện có thể đổi khác bởi cha anh lúc bấy giờ làm quan to, nhưng anh quyết định “không về”. Tại sao?
Đọc hết câu chuyện nhà văn chấm phá bức tranh thủy mặc văn chương ấy, nhiều suy nghĩ cho thước phim quá khứ, lòng lại hỏi như thế là thế nào? nhiều câu trả lời từng thứ cấp cứ nhảy múa tung tăng trong tâm người đọc, rồi dại, rồi khôn, rồi không thức thời v.v… chỉ có Giáo Ba mới biết mình sẽ làm gì và quyết định ra sao.
Tình yêu vô biên trong trái tim Giáo Ba mách bảo anh, cuối cùng anh chỉ đi theo con tim mặc cho định mệnh trái ngang, tất thảy đều chấp nhận, chính điều ấy nói lên được nhân sinh quan của đấng nam nhi.
Tôi đọc truyện nầy rất đồng tình với anh, cuộc sống quá nhiều điều không lường trước nhưng hãy sống hết mình với lòng chân thành, chính danh rồi đời ra sao hãy hay.
Người đọc lại sẽ thắc mắc và rồi phải suy gẫm.
Nếu như tuyện “Trơ đáy” là một khúc sông đời khá cảm xúc với thực tại của Long và Phượng bị chia cắt bởi lằn ranh ngoằn ngoèo định mệnh, linh cảm báo trước của thuở ấu thơ như những lát cắt từ thơ ấu đến khi quay quắt gặp lại nhau giữa Sài Gòn đến ngỡ ngàng vì duyên phận của nó với sự có mặt của người khách lạ đồng hương (Ông Khanh) tìm đến nhà ông Khởi, Hãy nghe anh viết đoạn kết “Sự vồn vã ban đầu đã nhường chỗ cho e dè, cảnh giác. Phượng đã quên hẳn kỷ niệm thời thơ dại, những ngày hồn nhiên tung tăng đến trường, đường làng rợp bóng tre dịu mát, những đêm trăng…
Nét kẻ ngoằn ngoằn ngoèo trên sân ngày nào đã thực sự là ranh giới nghiệt ngã trong tâm hồn của Phượng với Long “mã tà”.
DÒNG SÔNG TRƠ ĐÁY là chủ đề trong tác phẩm, nếu đọc truyện trên chúng ta không thấy dòng sông nào, vậy tại sao tác giả dùng hình ảnh dòng sông? Ồ, thì ra dòng sông đời của ông giáo Ba Dzan, dòng sông đời người cũng dữ dội như dòng sông của tự nhiên, lúc cuồng nộ, lúc tha thiết, lúc êm đềm rất hiền hòa, Thế nhưng với ông giáo Ba Dzan thì đúng là “trơ đáy”, không còn “giọt nước” hồi sinh nào để cứu vãn sự sống nữa bèn hóa thân vào một phu chở củi nơi xứ người may ra thoải mái hơn, trong thân xác gầy còm bởi cả một đời đứng trên bục giảng và cặm cụi viết sách giáo khoa toán, ấy là giải pháp cuối cùng để tồn tại với trần gian đa gian nan nầy, nhất là buổi giao thời của thống nhất đất nước.Tôi đọc mà nghe nghẹn từng khúc thanh quản. Ôi chao! Dòng sông đời ấy có ai hiểu thấu nổi lòng!
Đan xen giữa nhà văn và thầy Ba Dzan có những hoàn cảnh éo le đến độ không thể lý giải nổi hiện thực, chỉ có thực chứng mới hiểu sự tự tồn của đời người!,
Hãy lắng lòng đọc lại một hoàn cảnh của tác giả:”Trước tết, sạp cho thuê sách của tôi bị đoàn kiểm tra liên ngành huyện phong tỏa, Toàn bộ sách bị tịch thu, tôi suýt bị truy tố về tội lưu hành và tàng trử văn hóa đồi trụy.
Vợ tôi gào khóc thảm thiết:”- Hởi các ông Victor Hugo, Gogol, Guy de Maupassant, Tolstoy, Thạch Lam, Tô Hoài, Khái Hưng, ông Phật, ông Chúa… viết sách “văn hóa đồi trụy” làm gì cho nhà tôi hết vốn.”
Và như thế đó… Không còn cách nào khác là rời nơi chôn nhau cắt rốn, để đi đến một nơi xa hy vọng sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, dù biết rằng gian nan.
Gấp tập sách lại, nghiền ngẫm, thẩm định vì lẽ gì, thế nào? trong tôi chợt thấy rằng thì ra còn truyện “Thẩm định” nữa trong tập văn anh, “Thời nào thì cũng như nhau/ nổi buồn ly biệt nổi đau dối lừa”(Trần Nhuận Minh) bèn quay về với chính mình và thở than cùng đất trời.
Ta hãy đọc lại đoạn nầy các bạn nhé:
“Ông chỉ thở than với bà; Tâm lý xã hội bây giờ khó hiểu quá, họ hay đặt ngược vấn đề:Thấu tình đạt lý thay vì thấu lý đạt tình. Sự nghịch lý đầy rẫy trong xã hội làm lòng người điên đảo. Không thể phán đoán tâm lý xã hội theo logic cội nguồn, truyền thống đạo đức Á Đông”
Rồi như mách bảo con tim, tôi cũng như anh và những người thao thức hãy cứ trình bày cho nhẹ nỗi trách nhiệm làm người trước một xã hội, đất nước của mình đang dự phần, với niềm mong mỏi mỗi ngày mỗi tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn.
Còn nhiều truyện của anh nữa, những 64 cơ mà, tôi chỉ khái quát, còn các bạn đọc để thấy rằng rất nhiều chuyện thú vị nếu ta suy gẫm.
Để kết thúc bài viết nầy, tôi chỉ thêm mấy dòng thơ của thi sĩ Hoài Khanh, một thi sĩ tài hoa lúc nào cũng đau đáu trước nổi đau thân phận như sự đồng cảm với tác giả Nguyễn Châu:
… Và em lại ra đi như đã đến
Dòng sông xưa thân ái chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây có mọc hoang vu
( Thân phận )
NDT
Mùa Xuân Mậu tuất 2018
PHẠM NGỌC DŨ
Tel 0908 059 222

Advertisements

Posted in 03. Bình thơ | Leave a Comment »

TÌNH YÊU TUỔI HỌC TRÒ TRONG THƠ VŨ QUANG- BÀI VIẾT CỦA HÀ QUẢNG

Posted by thinhanquangngai1 trên 28/06/2016

TÌNH YÊU TUỔI HỌC TRÒ TRONG THƠ VŨ QUANG
BÀI VIẾT CỦA HÀ QUẢNGAnh đã thấy gì

Tôi biết Vũ Quang do một người bạn thơ giới thiệu, thế rồi qua những lần giao lưu trò chuyện chúng tôi lại quen thân với nhau. Hiện nay, anh là Đại tá đang công tác tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi. Những lần tâm sự, tôi nhận được trong “mắt anh” về tình cảm sâu lắng của anh đối với bạn bè và đối với thơ. Vừa rồi, anh có ký tặng tôi tập thơ “Em đã thấy gì trong mắt anh” do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành vào tháng 12 năm 2015.
Đọc tập thơ này, tôi có cảm nhận về nhiều mảng khác nhau. Đó là tình yêu quê hương đất nước; là hình ảnh người cha, người mẹ tảo tần vất vả nuôi anh ăn học để anh có được sự trưởng thành như ngày hôm nay. Đó còn là tâm tình của người lính trong những năm tháng xa nhà và tình cảm của anh đối với làng quê ở xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi hun đúc hồn thơ giàu tình nghĩa, đầy yêu thương cho anh…Đặc biệt là tình yêu tuổi học trò được anh thể hiện xuyên suốt tập thơ “Em đã thấy gì trong mắt anh”.
Như một điều mong muốn đối với người đọc có sự cảm thông chia sẻ những vui buồn trong cuộc đời và những nỗi niềm anh gửi gắm trong tập thơ . Vì vậy, ta bắt gặp những câu thơ của anh lan tỏa tận tâm hồn, tỏa ra từ cuộc sống mà Vũ Quang chắt lọc thành thơ:
Em đã thấy gì trong mắt anh
Mây trôi bảng lảng mộng yên bình`
Đã qua hơn nửa mùa chinh chiến
Dòng suối ngày xưa vẫn ngọt lành.
(Em đã thấy gì trong mắt anh)
Đọc thơ Vũ Quang tuổi học trò như hiện về trong tâm trí của mỗi người trong chúng ta. Cái tuổi thần tiên ấy, luôn vui tươi hồn nhiên tuôn trào như ánh trăng vùng biển Phổ Quang của anh; nuôi dưỡng tâm hồn anh để anh có những câu thơ thật hay khi viết về tình yêu tuổi học trò đầy thơ mộng.
Chợt một bữa thấy tóc em xinh quá
Anh tiện tay làm họa sĩ trên bàn
Thầy tóm được bắt chép liền câu hứa
“Không bao giờ vẽ bậy” – năm trang.
(Mái tóc em ngày đó)
Khi viết bài này tôi có điện thoại cho Vũ Quang và anh cho biết, anh làm thơ rất sớm, làm thơ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Và cũng biết yêu ở lứa tuổi ấy. Điều đó thật đúng với những điều anh ghi lại:
Mối tình đầu lúc ta tròn mười tám
Tôi vụng về đến gõ cửa nhà em
Không ai đón chỉ giàn hoa úp cánh
Phía sau nhà, em đứng đó lặng im.
(Đi qua tuổi mười tám)
Tình yêu tuổi học trò cũng là tình yêu đầu của anh, được anh thể hiện theo chiều dài của tác phẩm. Ta thử lắng nghe anh tâm sự qua dòng hồi ức của anh:
Em học lớp G, anh lớp H
Cách nhau chỉ một bức tường vôi
Lớp anh toàn các trai vùng biển
…Lớp em toàn gái dân thị trấn
Tiểu thư đài các nhất trong trường.
(Lớp G lớp H)
Tình yêu tuổi học trò để lại trong anh bao nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy lắng chìm sâu đậm khi anh còn đi học và anh bộc lộ:
Có hôm buổi học em vờ nghỉ
Anh đợi bao lâu nhớ ngẩn người
(Bâng khuâng)
Vũ Quang lớn lên đất nước vẫn chưa bình yên, cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa kết thúc thì cuộc chiến tranh Tây Nam của đất nước lại nổ ra. Năm 1982 anh lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Anh bỏ lại sau lưng bao nỗi nhớ, bỏ lại mối tình đầu thật đẹp, thật thơ mộng. Điều ấy, làm tâm hồn anh bao day dứt và nuối tiếc khôn nguôi:
Tháng sáu về anh lại nhớ ngày xưa
Ánh mắt buồn thiu em tiễn anh nhập ngũ
Đường lên ngã ba biên mù mù bụi đỏ
Chiếc xe Zin khạc khói lội trong rừng.
(Tháng sáu về)
Thời gian trôi qua sự nhớ nhung cũng nguội dần, người yêu của anh ở nhà đã bước sang ngang vì tuổi thời con gái không thể đợi anh lâu hơn nữa. Anh đã có sự cảm thông. Tuy vậy trong lòng anh vẫn có cái gì nuối tiếc cho mối tình đầu ấy – mối tình ở tuổi còn rụt rè bỡ ngỡ không dám nói thành lời. Điều ấy, anh thể hiện trong bài “Nghe em lấy chồng” với tâm trạng xót xa:
Em đi rồi và đi đã bao lâu
Như ngày tháng tôi đi vào cuộc chiến
Ôi tình yêu bỗng cuối cùng tan biến
Đời như quên và tình cũng như quên.
Trường cũ tình xưa như nỗi niềm ám ảnh thơ của Vũ Quang. Anh nhiều lần trở về trường cũ để tìm một chút gì để nhớ, để thương của tuổi học trò – tuổi anh mới bắt đầu yêu; để mong có một chút gì lắng đọng trong tâm hồn anh nhưng rồi anh thấy cảnh vật ngày xưa đã thay đổi và trong tâm hồn anh lại trĩu nặng yêu thương.
Lá vẫn vàng rơi thu đã phai
Trường xưa rêu phủ tuổi trang đài
Mười năm hoa rụng đầy sân vắng
Ai đã về đây nhặt tháng ngày.
(Lá vàng vẫn rơi)
Đứng trước cảnh cũ, trường xưa cuối cùng anh có cái gì một chút bâng khuâng do dự để rồi anh thốt lên trong ngậm ngùi thương nhớ:
Ta xin lại một nụ hôn già cỗi
Đã trao em trong giây phút ngập ngừng
Nụ hôn đó đã qua thời hoa lửa
Chút nồng nàn còn sót giữa môi xinh..
(Ta xin lại)
Đọc tập thơ “Em đã thấy gì trong mắt anh” của Vũ Quang còn bao điều ta cảm nhận nữa. Nhưng thôi! Tôi chỉ đi vào một khía cạnh trong tâm hồn của tác giả. Đó là tình yêu tuổi học trò được anh thể hiện trong tập thơ này. Mong bạn đọc có sự đồng cảm và chia sẻ nỗi niềm của tác giả đã gửi gắm, mà tôi bắt gặp một mảng tâm hồn Vũ Quang trong tập thơ này.

Mùa phượng vĩ 2016
Hà Quảng
………………………………………………………………………………
Hà Quảng,
Trường Trung học phổ thông số II Mộ Đức.
Xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
ĐT 0905527906

Posted in 03. Bình thơ | Leave a Comment »

ĐỌC MƯA HOANG CỦA HÀ QUẢNG – Bài của Bùi Minh Vũ

Posted by thinhanquangngai1 trên 06/03/2016

Đọc MƯA HOANG của HÀ QUẢNG

 

Hà Quảng tên thật Đoàn Văn Khánh, sinh ở Nghĩa Hiệp (Tư Nghĩa), lại có duyên ở Đức Nhuận(Mộ Đức, Quảng Ngãi); phát hành ba tập thơ: Con sóng tình yêu (2010), Thao Thức (2013), Mưa hoang (NXB Văn học, 2015).

Tôi gặp anh khá tình cờ, do một người bạn ở Hội văn học nghệ thuật địa phương giới thiệu. Từ đó, mỗi lần nhớ quê rong chơi, lại cà phê với anh.

Lần mới đây, anh trân trọng tặng tôi tập thơ Mưa hoang tại quán cà phê Nhà cổ.

Đọc đến trang 27, tôi thấy phải viết đôi dòng về Mưa hoang.

Có điều gì giữa em và biển

Sao lòng anh nôn nao

Có phải em là biển

Để anh hoài khát khao?

(Trước biển, tr 26-27)

Em là biển, hay biển là em, một sự ám ảnh cháy bỏng, một câu hỏi khó có lời giải. Tôi tự tra vấn: thơ anh như một cây xanh, vậy cảm hứng từ mạch nguồn nào? Có phải dòng sông Vệ, cánh đồng lúa vàng, hay biển, nhưng trên hết rễ từ đâu, nhận từ nhựa nào. Có phải ẩn dấu chính là tình yêu và kết dệt chúng, có phải: em, người đã nuôi nấng thơ anh. Dù trên bình diện nào, người đọc cũng dễ gần thơ anh, như hơi thở của cuộc sống cần mẫn, như một chiều quê hương rạ thơm lừng. Tôi thích khi dịu dàng, biển và em “trầm ngâm suy nghĩ”, lúc giận nhau, biển và em “cuồng si dông bão”. Thơ như một sự mời gọi, một tiếng vọng, tiếng thét, khiến người đi muốn trở về để nghe “biển cất cao tiếng hát”. Hãy bước tiếp vào vương quốc “Mưa hoang” đang mở ra nhiều thứ hay hay. Ta sẽ gặp mưa Đồng Cát:

Chiều Đồng Cát loang tím

Gió sông Thoa tràn về

Em xa mờ heo hút…

(Chiều mưa Đồng Cát, tr 30, 31)

Ta trôi theo nỗi hắt hiu ngạt ngào trong “ly cà phê chờ đợi/ tí tách từng giọt rơi” với hy vọng lặng lẽ vào “cõi miền mờ ảo”, biết đâu em còn nghĩ đến ta? Cũng như có lần ta từng mong “Thời gian đừng qua mau” để em ở lại, em ngồi đó dù dòng Trà nước đầy, nước cạn, thu đi, thu về trong tiếng tích tắc buông lơi. Nhưng rồi em đi, lại “gieo vào lòng anh / nỗi nhớ” không hình, không ảnh mà vồ vập như con sóng làm ta chơi vơi, biết trách ai, hay chỉ trách “mấy chú ve sầu”:

Sao chiều nay không cất lên tiếng hát

Gọi ngàn yêu thương khi trời đất chuyển mùa.

(Nỗi nhớ, tr 34, 35)

Thực sự nỗi nhớ lặp đi, lặp lại, xuất hiện như sợi chỉ xuyên suốt tập thơ, trở thành “dông bão lòng anh”. Hà Quảng là thế, trầm tư, buồn nhớ chảy vào trong, vì thế thi sĩ biết lắng nghe, chờ đợi, chịu đựng, đó chính là mạch nguồn kết nên thơ anh, tạo nên cái hồn thu hút, hấp dẫn.

Em có nhặt chút nhớ thương còn sót lại

Trên tàng cây khi trời đất chuyển mùa.

(Bao điều chưa nói, tr 36, 37)

Có thể, phải nhớ lắm, thương nhiều, Hà Quảng mới viết những dòng tâm phục: “anh cảm thấy cô đơn, cô đơn trong câu thơ”(Bão từ phía em), cô đơn trong mối quan hệ với em, không phải cô đơn theo kiểu “siêu hình”, không phải cô đơn như một “hữu thể đơn độc”, theo tôi. Và chính anh cũng đã tự giải thích:

Tình yêu sao lạ quá

Không sắc vị mùi hương

Không ngải bùa mộng mị

Sao tơ lòng vấn vương?

(Bên kia nỗi nhớ, tr 40, 41)

Hà Quảng nói về một điều rất cũ nhưng luôn luôn mới, anh đã thời sự hóa một đề tài vĩnh cữu: tình yêu. Phải tinh lắm thi sĩ mới bộc bạch:

Anh lắng nghe âm thanh của gió

ngàn âm thanh vọng từ con tim

ngàn âm thanh gieo vào

nỗi nhớ trào dâng.

(Em vẫn là em, tr 55).

Trong cơn khát yêu em: “Anh muốn trở thành giọt nước/ trước mắt em/ trong cơn khát…” (cơn khát mắt em, tr 61).

Uống mà vẫn khát, càng uống càng khát, có khi anh đuối trong mắt em mà anh không biết, không hay, để đến một ngày thức dậy, anh nói ra thơ, viết ra thơ, ngồi ở đâu cũng làm thơ. Thơ đến với anh như khí trời và nhờ vậy anh bình thản, tin tưởng và như chưa bao giờ thấy hư hao. Ai đó bảo thơ Hà Quảng “có cớ”, tôi thêm vào thơ anh “có duyên”, cái duyên đằm thắm, nồng nàn, không vồ vập, vội vàng, mà trào dâng như sóng vỡ.

14-2-2016

Bùi Minh Vũ

 

Posted in 03. Bình thơ | Leave a Comment »

ĐỌC TẬP THƠ – DƯ ÂM BỜ XE NƯỚC

Posted by thinhanquangngai1 trên 02/10/2015

ĐỌC THƠ

“DƯ ÂM BỜ XE NƯỚC “

“Chiến tranh nghĩ cũng ly kỳ
Những thằng thi sĩ còn kỳ ly hơn”.

Có lẽ Bùi Giáng cũng đã lờ mờ cảm thấy bóng dáng của điều gì về thơ …thông qua sự phát hiện hành vi ly kỳ của thi sĩ. Cái hành vi kỳ ly kỳ lạ đó, mà chỉ ở những người làm thơ mới có không biết từ bao giờ. Rất có thể ngay từ buổi hồng hoang trong bầy bầy con người nguyên thủy. Chỉ cần một tiếng hú của gió, một âm thanh xao động của nước, cũng đủ chuyển hóa chuyên chở, đủ diễn đạt bồi đắp bao điều khát vọng ước mơ.
Từ thượng tầng kiến thức, hay cuối ngõ tư duy. Đâu đó còn lẫn lộn trong ký ức. Hình ảnh Bờ Xe Nước như một biểu tượng sâu sắc khó quên mang tính đặc thù quê hương trong lòng người dân Quảng Ngãi. Ở đó những âm thanh nhịp nhàng reo rắc đẩy đưa triền miên theo dòng nước chảy, theo thời gian mưa nắng, hứa hẹn một vườn xanh nặng quả. Cái chút lắng đọng trong lòng người bỗng diệu kỳ làm sao ấy. Giữa cuộc đời,  trùng trùng duyên khởi, sự kết nối vô số những hạt giống nhân duyên tưởng đâu là  nhiệm mầu kỳ lạ, nhưng thật ra ở đó có sẵn sự an bài thiên định. Trong tầng tầng cảm xúc, trong lớp lớp sở thị, nối dài thành một sợi dây viên mãn.
“Dư Âm Bờ Xe Nước”. Hội tụ 6 (sáu) gương mặt thi nhân. Mỗi người một dòng thơ khác nhau, một cung bậc và một cấp độ khác nhau. 3 nhà thơ của Thôn La Hà: Thạch Lê. Lệ Hồng. La Hà Thạch Trận. Là những người đã từng làm thơ lâu năm. 3 cây bút ở Thôn Vạn An: Trần Công Thạch. Trần Quang Dũng. Trần Như Nguyện. Cũng là những tác giả đã có  tác phẩm trình làng, và từng chắp bút cho Thơ bay ở một số diễn đàn văn chương trong nước. Từ cộng hưởng nối kết uyên nguyên gắn bó dịệu kỳ ấy. Nên “ Dư Âm Bờ Xe Nước” có một vóc dáng riêng đa dạng, làm nên sự phong phú bất ngờ, đồng thời gợi sự tò mò cuốn hút người yêu thơ đồng điệu.
Mỗi nhà thơ một vẻ riêng, nhưng tất cả đều có chung một tâm trạng, một chủ đề thơ: Nói về tình yêu thương dành cho cuộc sống. Nơi chôn nhau  cắt rốn của quê hương. Ở đó cuộc đời được mường tượng như dòng trong xanh của bờ xe nước đang từ từ trôi, đang tha thiết tìm tới ruộng vườn xanh tươi đợi mùa hoa nở.Và trên dòng nước ấy mỗi gương mặt thơ là một số phận, một con thuyền nhỏ chuyên chở những buồn thương yêu dấu của riêng mình.
Có một điều thú vị mà hình như ở cả 6 nhà thơ cùng có chung một điều trăn trở, một lối suy tưởng dù bút pháp có khác nhau, cách diễn đạt có khác nhau: Đó là kiếp người phù du. Duyên tình tiền định. Tử sinh luân hồi. Cuộc đời phù vân cát bụi. Một tâm thể cô đơn. Sự định vị trong phiêu lãng gây nên cảm giác về những bất ổn thường trực. Phải chăng, đó là tâm trạng khá phổ biến của những  người khi bước chân đến gần tới cuối con đường… Gối đã mòn, chân đã mỏi, mà cái đích hạnh phúc thì vẫn còn lờ mờ đâu đó trong chốn mịt mù sương khói của trần gian:

Dù ngày nắng dài, đêm mưa chẳng ngắn / Tình bốn phương thôi gởi lại từ đây / Ta về lại với Ruộng Đồng Thơm Ngọt / Tiếng giã từ không nhuốm vị chua cay. Thạch Lê (Đôi Lời Gởi Lại). Từng dấu chân của nhà thơ Thạch Lê  (TL) trải dài xuôi ngược bốn phương theo cuộc sống đời thường. Tác giả cũng đã nếm từng vị chua cay để nghe những cơn thao thức ngọt ngào: Dù câu nói còn gạn tìm ngôn ngữ / Khó thật lòng, (hừ! nỗi  sợ vô duyên) / Khi ta bước ngược con đường đi tới / Đừng vì ta mà chuốc lỗi “tình riêng.  TL (Đôi Lời Gởi Lại). Từ triền miên ray rức của Trường Giang, với thân phận im lìm như hòn sỏi nhỏ. Nhà thơ vẫn cố gượng vui với tình tri ngộ: Tình tri ngộ tiếc chi không trọn vẹn  / Nhánh sông đời chia ngã lắng phù sa / Góp với mai sau mùa cây trái ngọt / Thì hãy vui đi- Cạn chén quan hà.  TL ( Đôi Lời Gởi Lại). Nhà thơ TL đã từng chắp bút cho thơ từ những thập niên 60 của thế kỷ trước. Nên với Ông thơ giống như những cơn gió chiều tà,  giống như trang điểm nét hào hoa xưa: Có khi gió tắt chiều tà/ /  Căn gác hẹp nỗi nhớ nhà xôn xao / Xót ai nhạt thắm phai đào / Áo cơm ta lệch nét hào hoa xưa. TL (Một Thoáng Đơn Sơ). Thành ra đôi lúc còn lại một mình nhà thơ bỗng thấy: Có khi buồn vẫn cứ cười / Vô duyên đến thế mà người vẫn thương. TL  (Một thoáng đơn sơ). Bởi tích lũy một bề dày trong sự nghiệp văn chương. nên nhìn chung bút pháp trong thơ Ông phong phú đa dạng.Từ cái thân phận phù du của con người.  Tác giả ví von như hình ảnh của Ngưu Lang, Chức Nữ – Một biểu tượng mai mãi đợi chờ: Cây sầu quên lửa mùa hoa / Người đi từ ấy thiên nga lạc bầy / Hơi xuân sưởi ấm chồi cây / Chim hồng chưa thấy theo mây tìm về. TL ( Đợi Chờ). Và trong nỗi đau tình cờ khi chung quanh ngập đầy bóng tối, nhà thơ quay quắt với nỗi buồn tím môi, trước cõi nhân sinh lắm con đường nghẽn lối: Chìm sâu bóng tối mê say / Hoa vàng ươm mộng đắng cay thiên đàng / Lần tay tính chuyện đò ngang / Vòng hoa trắng lạnh ngỡ ngàng gọi tên. TL. (Nỗi Hận Chia Bờ). Rồi trong một thoáng Ông lặng lẽ trở về ấp yêu bên cái tự ngã cố hữu của chính mình, bằng lòng đánh mất bao ảo tưởng của tương lai, với ba lô hành trang theo con nước rời nguồn trôi vào mênh mông của không gian sa mạc: Đêm buồn cầu một chút vui/ Có ai từng lấy ngậm ngùi đem cân?TL (Chấm hết)…

     Từ những ray rứt quắt quay tưởng đâu như bất tận trong cõi nhân sinh. Từ những con đường quanh co lầy lội. Nơi nhà thơ Trần Quang Dũng (TQD) đã vội vã đi qua. Ở đó còn vương lại loang lổ bao kỷ niệm vui buồn, sự âm ỉ giữa hạnh phúc và khổ đau, giữa tình yêu và trách nhiêm, vô tình đẩy đưa nhà thơ xuôi theo con nước dòng đời.: Cũng con đường ấy bao lần / Thả dài bóng mát như gần như xa / Thả trên lưng nỗi nhớ nhà / Có tay em đỡ tôi qua cơn buồn. TQD.  (Ngày Về Phố Cũ). Kiếp người phù du, xác thân như bọt bèo. Khi gối đã mòn, chân đã mỏi. Nhà thơ cảm được cuộc đời là trăm ngàn ngõ ngách yêu thương: Ta nghe chiếc lá vàng rơi / Nghe trong gió nhẹ đôi lời thở than / Nghe từ nguyên thủy cưu mang / Xác thân … bèo bọt đau càng thêm đau . TQD. (Nỗi Niềm)Vì bởi cuộc đời quá nhiều ngõ ngách để yêu thương. Nên TQD bỗng giật mình lạnh ngắt với nỗi cô đơn của riêng mình, khi chung quanh hóa ra chỉ là một bầy đom đóm: Bóng ngày vừa mới quay lưng / Thì tôi bóng đã hòa cùng với đêm / Bắt con đom đóm tìm em / Tôi theo theo mãi hết miền bể dâu. TQD. (Chờ Mãi Một Tình Yêu). Dù có là thơ hay mộng, dù có là mơ hay tỉnh. Qua những chặn đường thấm đậm mồ hôi và nước mắt, những gian nan cơ cực vì nhu cầu tìm kiếm mưu sinh. Đâu đó tác giả còn thấp thoáng thấy bóng mình đang lơ ngơ đứng trước cổng trường xưa: Năm học mới anh không còn đi học / Lòng em buồn trĩu nặng dáng trời đêm / Cây thức gió thương mong tà áo trắng / Mái trường xưa sầu ngã bóng vương thềm. TQD. (Năm Học Mới).

        Là cựu học sinh Trần Quốc Tuấn. Trần Công Thạch (TCT) từng làm thơ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.  Với đầy ắp suy tư. Ông trang trải nội tâm của mình xuyên suốt qua dòng thơ tự sự.Thơ của Ông cũng đã góp mặt ở nhiều sân chơi và có chỗ đứng nhất định trên một số diễn đàn văn chương trong nước. (Đã xuất bản Bình Minh của Mùa Đông. 01/2015 NXB TN) .

Nhìn chung, người đọc dễ tìm thấy ở thơ Ông đậm chất hiền hòa của hương đồng gió nội. chúng ta cũng tình cờ gặp Ông đôi lúc thả bước lãng du giữa xứ người với bạt ngàn núi rừng hoang dại. Đâu đó có những người tình là những đóa Lan rừng nguyên trinh. Có thể không phải là người tình thật, chỉ là người tình qua phong cách trừu tượng của nhà thơ. Nó mang tính tượng trưng nhưng bao hàm, chuyên chở những ước mơ của người thơ với vô cùng hoài bão tinh khiết chọn lọc, kết tụ giữa tình yêu thương gia đình và xã hội. Trong chừng mực nào đó, có lẽ cũng vừa đủ để thi sĩ nói lên quan điểm của riêng mình. Mong ước về một tình yêu thánh thiện. Một mái ấm gia đình hạnh phúc, hài hòa giữa trinh bạch mờ ảo của cõi trần gian nầy…

Cũng từ những ẩn dụ phong phú của thơ ca. Nên Thơ TCT chuyên chở một độ dày cảm xúc, thấm đậm tình nhân ái, phản chiếu qua lăng kính của ngôn ngữ thơ, tỏa ánh hào quang pha màu triết lý về thân phận con người:  Bà bán rau lụm khụm / Cũng điện thoại nhắn tin / Trẻ tiểu học Iphone / Lên mạng cùng khắp chốn. TCT (Quê Tôi Sau 40 năm Hòa Bình). Dù luân lạc trên muôn vạn nẻo đường quê hương. Dù trầy trật giữa núi rừng bạt ngàn cây lá, hay sẩy bước ở một góc cô đơn không tên nào đó, giữa xô bồ của dòng đời oan nghiệt. Nhà thơ TCT  cũng da diết bâng khâng với nỗi nhớ tình người, với công ơn sinh thành dưỡng dục của Mẹ Cha:  Cơm trắng, cá tươi cho con tất cả / Kỳ vọng ngày sau hữu ích với đời / Lặn lội dưới đồng nuôi đàn con nhỏ / Suốt một đời lưng áo đẫm mồ hôi /  Đường đời chông gai ngăn chia lối rẽ / Các con đi xa kiếm sống xứ người / Thân con trẻ chưa một lần báo hiếu / Đoạn cuối đời Mẹ cô độc mòn hơi. TCT (Mẹ Tôi).   Phần đông thi sĩ thường đa tình. Nên đôi khi bỗng thấy mình lạc điệu trong mớ đạo lý của thánh hiền, giống như con chim trong lồng, khao khát khoảng không gian mênh mông bên ngoài song cửa: Đời ta chẳng có gì vui / “Đồng sàng dị mộng” ngậm ngùi canh thâu / Còn chút thơ lắm cơ cầu / Vợ con chẳng thích, cõi sầu bi ai. TCT. (Cô Đơn Một Đời). Từ những u uất trăn trở no lòng. Từ những vết thương đời đang hồi hoại tử. Nhà thơ hốt nhiên hiện hữu giữa cõi không gian bạt ngàn núi đồi. Và bất chợt,  thi sĩ bỗng thấy mọi thứ chung quanh đều vô cùng tuyệt vời và đáng yêu… Yêu cô Sơn nữ, yêu chiếc gùi trên lưng, yêu bờ vai trần, yêu cả bàn chân đất:  Thương Sơn nữ- Ta mến gùi / Đầu trần, chân đất, ta vui núi đồi / Thị thành bao cảnh thịt xôi / Vui miền sơn giã, gởi đời từ đây. TCT. (Một lần đến Ba Điền).  Dù có lãng đãng theo mây ngàn gió núi, dù có ê chề bất trắc khổ đau. Nhà thơ TCT vẫn có quá nhiều thời gian để tỉnh tâm, tinh lược, sắp xếp những dòng suy tư của mình theo một lộ trình thâm thúy rất nhân sinh. Nên giọng thơ TCT thơm ngát chất đam mê và tinh túy của hương đồng gió nội, nặng lòng với quê hương, đau đáu về một tình yêu thuần khiết: Em yêu dòng Trà Khúc / Anh xao xuyến Vệ Giang / Đường liên thôn trải nhựa / Lúa chín màu vàng hanh. TCT. (Tình Lỡ). Và cuồn cuộn trong dòng  tâm sự ấy, tác giả bồi hồi xúc động khi về thăm lại mái trường xưa:  Tôi chỉ là chiếc lá của rừng cây / Lá đã úa, mà cây rừng vô số kể / Lần đầu tiên về thăm thầy cô cũ / Bạn bè ơi! Đâu đứa mất đứa còn. TCT. (Trần Quốc Tuấn 60 năm).Hay tha thiết tìm về nơi chôn nhau cắt rốn đã một thời TCT xa cách lãng quên…: Hãy đưa nhau về với Vạn An / Dòng sông Bến Lỡ uốn miên man / Cầu xưa ván hở đâu còn nữa / Kỷ niệm đong đầy lại trái ngang. TCT. (Đưa nhau về).

         Trần Như Nguyện (TNN), là một nhà thơ nữ. Thơ của TNN giống như một tiếng thở dài  đầy nuối tiếc và cam phận. Từ bút pháp đặc trưng không giống ai. Nhà thơ TNN đã thể hiện một bản lĩnh trong sáng tác với  tâm trạng đầy cá tính vừa dung dị mà khiêm tốn , vừa lắng yên mà chia sẻ… làm nền móng để xây dựng kiên cố cái mái nhà tư tưởng của riêng mình: Dốc đời thoái ta vẫn phi nước đại./ Bởi trên đầu tà huy đã nhìn nghiêng./ Hình như chiều có tiếng chim rúc tổ./  Gíó ghen tuông cứ lảng vảng tò mò.  TNN. (Hoài âm xưa). Cũng bằng những ngôn ngữ dân gian bình dị. Nhà thơ TNN dễ dàng tạo cho người đọc cảm thụ được bức tranh sinh động về quê hương:

Nguồn nước sống ngô lúa – bờ xe nước./  Múc phù sa ròng rã tưới đồng tươi. / Mật mía đường thanh giọng hát à ơi !. / Cánh cò nhỏ bên vành nôi mát rượi. TNN. (Hòai âm xưa).Với tiếng cót két quay đều của bờ xe nước. Hình như với Thi Sĩ là những tiếng kêu than thở về số phận của dòng sông, một duyên nợ trong vô vàn chủng tử mà tạo hóa đã run rủi an bài: Gió khuya bay lũy tre già hơn dỗi. / Chẳng còn gì duyên nợ với dòng trôi. / Ta trở về lặng nhìn dòng sông ấy. / Hoài âm xưa tiếng cót két quay đều. TNN. (Hoài âm xưa).  Đứng giữa cuộc đời đầy những bất trắc rủi ro. Con người liên tục bon chen để cơ cầu danh lợi. TNN vẫn hoài mong đến một mảnh vườn xưa, đến một túp liều tranh nho nhỏ, đến những câu hát đồng dao…::  Bên vườn trắng muốt hoa lê lựu. / Giữa đậu đỏ hoe khóm trúc đào. / Gà gáy giữa trưa tuôn ngọc phiến. / Diều bay nghiêng xế rộn đường bao. TNN. (Về đây).

           Khác với phần đông Phụ nữ cầm bút làm thơ ở  cái thời điểm trời chiều xế bóng. Nhà thơ Lệ Hồng (LH). Không dành nhiều thời gian cho thơ tình, hay thơ viết về những kỷ niệm yêu thương của thời mới lớn…  Tác giả chăm chút bận rộn tập trung  cho tròn cái hiếu phận của đạo làm người. Từ những trải nghiệm vô cùng quí giá của cuộc đời. Từ những giá trị đích thực của mồ hôi và nước mắt. Tác giả nhận thức  hạnh phúc gia đình như một nguyên lý ắt có và đủ để tồn tại giữa cuộc sống áo cơm xô bồ:  Tiền tài đã thiếu còn bê./ Đành lòng má phải trọn bề “tề gia”./ Mừng nay con đã sang phà./ Nỗi lo lòng mẹ cũng đà giải khuây. LH. (Cây Phát Tài trổ bông). Vui với bổn phận tề gia ấy, tác giả thấy mình còn phải trách nhiệm nhiều hơn. Đấy cũng là tâm trạng chung của những người đã cảm nhận mình đi đến gần cuối con đường… Bây giờ nhà vắng phòng dư./ Vào  ra chỉ có tiểu thư với chàng./ Công việc thì vẫn rộn ràng./ Thôi thì gác lại chàng nàng đi chơi. LH. (Đón Xuân).  Có lẽ với nhà thơ LH chỉ có những câu chữ du dương của thơ ca mới chuyển đi được cái thông điệp tư tưởng, mà ở đó tâm tư tình cảm cùng thể hiện bằng những ngôn từ mộc mạc chân quê: Dẫu đời vật chất còn lo./ Có bạn tri kỷ giàu no tinh thần./ Lòng tôi cảm kích vô ngần./ Biếu thêm chút nữa là vần thơ đây. LH. (Tuổi già).,./

        La Hà Thạch Trận. (LHTT). Một nhà thơ nữ thiên về suy tư nhân thế, tác giả cố gắng tạo cho mình một phong cách riêng, một nhân sinh quan riêng, vẽ nên chân dung đầy đủ cho bộ sưu tập về cuộc đời… Dư âm bờ xe nước như một bức tranh sinh động với nhiều gam màu phong phú thể hiện qua thơ của LHTT, bằng những tiếng vọng vang của âm thanh vô cùng ấn tượng đã hằn sâu trong ký ức của người yêu thơ…Nhớ chiều tiếng nước vọng vang./ Hoàng hôn lành lạnh chim ngân cuối trời./ Róc ra róc rách đầy vơi./ Gió đùa nước rẽ sương rơi lờ mờ. LHTT. (Dư âm bờ xe nước). Cũng bằng phong cách diễn đạt nhẹ nhàng quyến rũ ấy. Nhà thơ đã phát họa lên vô số những hình ảnh thân quen khó quên: Chân trần đánh nhịp chia phôi./ Khuấy dòng nước chảy thả xuôi về đồng./ Uy nghi hùng vĩ bên sông./ Bờ xe quay mãi dập dồn ngày đêm. LHTT. (Dư âm bờ xe nước). Thơ của LHTT có một tố chất đặc biệt đầy đam mê, đầy khát vọng và đầy nữ tính. Nhà thơ trân trọng nâng niu một tình yêu trong sáng thuần khiết:  Quà em cá Bống sông Trà./ quà em khói rạ mưa sa mái đình./ Để em đỡ nhớ quê mình./ Để em ấm áp chân tình cho nhau . LHTT. ( Quà quê). Với LHTT hình như kỷ niệm là hành trang mà nhà thơ đã mang theo suốt cuộc viễn du nơi đất khách quê người:  Về ngang Thạch Bích tà dương./ Vỡ ngàn tiếng gió, nhàu con diều buồn ./ Ngón chân bấu dưới cỏ non./ Vấp miền kỷ niệm , lối mòn ngổn ngang. LHTT. ( Về miền kỷ niệm). Cái chất đam mê trong tình yêu ấy, đôi khi làm cho nhà thơ bổng thấy mình ngu ngơ: Em về nâng vạt mùa thu./ Gió vờn lá úa, mù u chín muồi./ Tóc mây con gái xa rồi./ Chỉ còn chút lửa cho lời thơ rơi. LHTT. (Mưa thu). Mà thường là vậy trong tình yêu ít người có đủ tỉnh táo, sáng suốt để phân định đúng sai. Bởi tình yêu như là chất men say, cơn say cuốn ta đi, nó có thể trở thành nguyên nhân đưa đẩy đến bất trắc khổ đau: Ngu ngơ em vẫn đợi ai./ Ai sang thuyền mới cho ai võ vàng.  Thu tàn héo úa trần gian./ Nửa  tình lơ lửng, tìm chân lối về. LHTT. (Mưa thu). Bên cạnh những khắc khoải của tình yêu đôi lứa, những suy tư bận rộn chuyện áo cơm đời thường. Nhà thơ LHTT lúc nào cũng có một khoảng lặng riêng mình để dành cho Người Mẹ yêu dấu ở quê nhà: Tháng ngày khoảng lặng vắng im./ Vào ra cửa ngõ, ngóng nhìn trời mây./ Ước thầm con lớn về đây./ Ước thầm tiếng gọi lấp đầy hư không. LHTT. (Mẹ và khoảng lặng).

   Dư âm bờ xe nước. Một tập thơ, 6 tác giả của nhóm thơ La Hà- Vạn An. Ở đó những con chữ, những bông hoa  là một dòng tâm sự, một vị trí vừa đủ để phát họa nên chân dung mỗi một nhà thơ, mỗi con thuyền chuyên chở đầy ắp những kỷ niệm vui buồn… đang bồng bềnh trôi theo nhịp âm vang hòa tấu muôn đời của thiên nhiê

Thu. Ất Mùi

TRẦN QUANG CHÂUbia

Posted in 03. Bình thơ | Leave a Comment »

SAU CƠN ” MƯA HOANG “LÀ…

Posted by thinhanquangngai1 trên 26/06/2015

SAU CƠN “MƯA HOANG” LÀ THĂM THẲM NIỀM THƯƠNG, NỖI NHỚ…
(Cảm xúc sau khi đọc tập thơ” Mưa hoang”- Hà Quảng- NXB Văn học, 2015)

Khi đọc một tác phẩm văn học, điều tôi chú ý đầu tiên là nhan đề của tác phẩm đó. Nói như Đào Ngọc Đệ: Nhan đề “như gương mặt của một con người; nó là cái nổi bật nhất để phân biệt tác phẩm này với tác phẩm khác”
Như người bố, người mẹ phải nghĩ suy trăn trở lựa chọn khi đặt tên cho đứa con thân yêu của mình, nhan đề mỗi bài (hay tập) thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết…đều thể hiện sự lao động nghệ thuật của tác giả đối với đứa con tinh thần của mình. Khi ta bắt gặp những nhan đề cũ mèm thể hiện sự lười biếng trong lao động nghệ thuật, tự dưng cảm thấy mất hứng không muốn đọc tiếp tập thơ (hay tập truyện) ấy nữa.
Giữa hàng chục tập sách mới được bạn bè xa gần biếu tặng, tôi chú ý đến tập thơ của tác giả Hà Quảng cũng bởi cái tít khá lạ và độc đáo của anh “Mưa hoang”.
“Cơn mưa hoang rong chơi về phố biển
Gió nồng nàn gợi dáng thu xưa.”
(Mưa hoang)
Bằng nghệ thuật tu từ nhân hóa, tác giả khiến người đọc thú vị khi hình dung ra “cơn mưa hoang” như một chàng lãng tử trẻ tuổi nghịch ngợm, ưa xê dịch. Một chút phiêu diêu, một chút mộng mơ tạo nên sự liên tưởng hư thực, bảng lảng giữa thiên nhiên và trạng thái tinh thần của con người:
“ Em lại tìm em trong ngút ngàn ngày tháng cũ
Em thấy bóng dáng mình bên chùm hoa dại
Em thả hồn trong nắng gió yêu thương
Em dệt vần thơ từng sợi tơ vương
Thảng thốt chiều nay sao dài nỗi nhớ…”
(Mưa hoang)
Trong toàn tập thơ, tác giả dành nhiều thời gian ưu ái viết về tình yêu đôi lứa:
“ mái tóc bay trong chiều lộng gió
phủ xuống câu thơ ngọt mềm”
(Mái tóc em)
Tác giả đã khéo léo sử dụng biện pháp tu từ nghệ thuật hoán dụ “mái tóc” theo phương thức chuyển nghĩa để nói về một bóng hồng mà anh hằng nhung nhớ. “Mái tóc” đó “bay trong chiều lộng gió”, rồi tìm điểm dừng thật nhẹ nhàng, êm ả “phủ xuống câu thơ ngọt mềm”.
“Câu thơ ngọt mềm”. Câu thơ nhờ có hình ảnh mái tóc trở nên dịu dàng, êm ái, đáng yêu xiết bao! Sự chuyển đổi cảm giác trong thơ từ thị giác đến vị giác, xúc giác, thính giác và đến cả linh giác. Bao kỷ niệm thân thương ùa về “mái tóc” như “câu thơ mượt mà”- mái tóc “ thơm hương dịu dàng” là cái cớ để người thơ ấy vấn vương một mối tình trong hoài niệm thẳm sâu…
“ Vần thơ anh viết có tình em
Mái tóc em bay trong gió chiều
Có hương sen tỏa trong hơi thở
Ánh mắt lặng thầm…bao lời yêu”
(Em của tình thơ)
Người đẹp không chỉ hiện lên trong thơ Hà Quảng bằng hình ảnh hoán dụ chọn lọc “mái tóc” mà còn bằng hình ảnh hoán dụ “đôi mắt” nữa:
“ ánh mắt của suy tưởng
của đắm say
cháy bỏng cơn khát
…đôi mắt em
hoang sơ màu tư tưởng
xanh niềm mơ ước
xanh lòng khát khao”
(Cơn khát mắt em)
Vẻ đẹp của đôi mắt ấy không chỉ dừng ở cái nhìn sáng trong, cháy bỏng “như vì sao lấp lánh/ ánh lửa bập bùng” bề ngoài nữa mà nó đã thể hiện rõ vẻ đẹp nội tâm, vẻ đẹp trí tuệ của em rồi. Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Tôi yêu những câu thơ có chiều sâu như thế trong “Mưa hoang” của Hà Quảng:
“ Một chút giận, một chút hờn lăn trên mắt em
Anh bỗng thấy câu thơ tình nặng niềm trăn trở…”
(Một chút giận, một chút hờn)
“ Em mềm mại dễ thương
như vầng trăng tỏa sáng
tỏa sáng vần thơ
tỏa sáng ước mơ
mà sao cũng là bão?
anh bị tấn công
anh bị bao vết thương
bị nỗi nhớ dày vò
anh không chống nổi !
…chiều loang tím
trĩu nặng
bão từ phía em ! »
(Bão từ phía em)
Từ cơn bão Haiyan có thật trong đời, tác giả liên tưởng đến cơn bão «từ phía em» -người con gái «mềm mại dễ thương» với vẻ đẹp tâm hồn thánh thiện «như vầng trăng tỏa sáng». Thoạt nghe tưởng chừng như vô lí nhưng càng ngẫm càng thấy thật hợp lô gic: Chính vì em đẹp thế, em thánh thiện đến thế mới làm lòng anh nổi giông nổi bão bởi «nỗi nhớ dày vò/ anh không chống nổỉ». Đó là cách nói hình tượng đầy chất thơ.
Câu thơ tả tâm trạng này cũng rất gợi :
«em nhìn mưa qua cửa sổ
Chiếc lá vàng lảo đảo
Gợi nỗi niềm yêu thương»
(Sài Gòn bất chợt)
Câu thơ nhân hóa «chiếc lá vàng lảo đảo» khiến ta liên tưởng đến kiếp người mỏng manh «sắc sắc không không» như lá vàng trước cơn mưa gió của cuộc đời; lòng lại thầm mong cho đi và nhận lại thật nhiều yêu thương trong cuộc sống hữu hạn của con người…
Bên cạnh chủ đề chính viết về tình yêu đôi lứa, Hà Quảng cũng dành dụm thời gian viết về tình yêu gia đình, tình yêu quê hương, đất nước. Tình yêu gia đình, quê hương, đất nước trong thơ anh gần gũi thân thương và hòa quyện khăng khít, thắm thiết. Không gian thơ mở rộng đa chiều: từ cơn «Mưa xưa» qua «Chiều mưa Đồng Cát»; từ «Dòng sông quê mẹ» đến «sông Thoa», «sông Dinh»; từ giọt «Nắng phương Nam» đến «Đôi miền thương nhớ»…đâu đâu ta cũng bắt gặp những hình ảnh thân thương, trìu mến, thiên nhiên ấp ủ tâm hồn người :
« Cơn mưa chiều lãng đãng
Dòng sông Thoa thì thầm…”
“ Nắng phương Nam hay tình em là nắng
Nắng dịu hiền mang màu sắc rất riêng
Nắng phương Nam gợi bao điều khao khát
Cứ dập dờn như con sóng triền miên…”
Rất nhiều người đã làm thơ ca ngợi: Mười cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc nhưng Hà Quảng có cách thể hiện riêng. Vẫn bằng thủ pháp tu từ hoán dụ, tác giả dụng công đặc tả về mái tóc- mái tóc của những nữ thanh niên xung phong thời chống Mỹ cứu nước:
“ mái tóc vương vương màu đất
mái tóc vương vương màu khói bom
cây bồ kết trĩu quả tỏa hương
cái lược, cái gương của thời con gái…”
(Mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc)
Không chỉ mở rộng phạm vi thơ ở không gian đa chiều, Hà Quảng cũng rất chú ý đến thời gian trong thơ: quá khứ- hiện tại- tương lai luôn đan cài, trăn trở trong thơ anh. Sau hai mươi năm xa cách, thầy trò gặp lại nhau tại ngôi trường cũ, thầy giáo rưng rưng quan sát các em đi tìm lại bóng dáng, nụ cười, tiếng nói của mình “còn đọng đâu đây nơi lớp học sân trường”. Không có tấm lòng yêu nghề mến trẻ sâu sắc, không thể viết được những câu thơ chân mộc, nặng tình như thế này:
“ Những mái đầu xanh nhuộm vài sợi bạc
Cuộc sống mỗi người nhiều nét đổi thay
Chúng ta vẫn nhận ra bao điều ngày ấy
Niềm yêu thương còn lắng đọng đến giờ!”
(Sau hai mươi năm)
Mùa xuân- thời gian khởi đầu một năm, cả nước dành sự quan tâm cho những người lính trẻ đang ngày đêm canh giữ bảo vệ biển đảo Trường Sa:
“Người dân biết các anh còn nhiều thiếu thốn
Gửi món quà quê mẹ thắm yêu thương
Người vợ gửi cho chồng bằng tình yêu chung thủy
Đứa con thơ gửi cha cái hôn nồng nàn sữa mẹ…”
Tác giả thấm thía một điều: món quà các anh bộ đội Trường Sa cần nhất không phải là giá trị vật chất mà là tình cảm thân thương, trìu mến, chung thủy…từ đất liền dành cho anh, giúp anh có thêm động lực “vững vàng tay súng, bảo vệ chủ quyền lãnh hải biên cương”.
Mùng ba Tết, học sinh đến thăm thầy cũng làm cho tác giả rưng rưng cảm động:
“Chén trà xuân lan tỏa
Không gian tràn nhớ thương
Hương xuân gợi vấn vương
Biết bao điều muốn nói”
(Chiều mùng ba Tết)
Mỗi khoảnh khắc thời gian đi qua cuộc đời cũng chạm vào tâm hồn đa cảm ấy miên man nỗi nhớ
“tháng ba rồi không biết sao đây
nỗi nhớ chất chồng nỗi nhớ
sao nhớ thương không lối đợi
vương vương tóc em nồng nàn”
(Chút nắng tháng ba)
Giọt mưa tháng bảy trong thơ anh cũng vương mang sầu nhớ:
“ Giọt mưa nào rơi bên kia sông
Để giọt bên này nhớ nhung sâu nặng”
(Mưa tháng bảy)
Rồi một đêm tháng mười huyền ảo:
“ anh vịn vào ánh trăng
ánh trăng khuya mềm mại như nỗi nhớ không tên
trĩu nặng bao niềm khát khao…”
( Giữa tháng mười)
Có một mùa thu người thơ ấy ra thăm Hà Nội “thành phố cổ kính trong sắc màu hiện đại”, ngắm hồ Gươm “lăn tăn con sóng” êm dịu, sao anh vẫn cảm thấy như những con sóng ấy:
“Vỗ vào lòng anh
Cứa vào da thịt anh
Nỗi nhớ”
( Mùa thu Hà Nội)
Hơi phóng đại một chút khi nói con sóng lăn tăn nơi Hồ gươm thơ mộng kia lại có sức mạnh “cứa vào da thịt anh nỗi nhớ”. Nhưng nếu đọc kỹ từng bài thơ trong tập thơ” Mưa hoang” của Hà Quảng, mới hiểu người thơ này luôn mượn cảnh tả tình và cảm nhận của anh là hoàn toàn chân thực , bởi “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du).
Thơ Hà Quảng giàu cảm xúc và mang đầy tâm trạng ưu tư hoài niệm:
“ Chiều nay cơn gió liêu xiêu
Còn không nỗi nhớ những chiều mưa xưa?”
(Mưa xưa)
Dẫu có mộng mơ, hoài cổ đến mấy, người thơ ấy vẫn rất tỉnh táo sống cho hiện tại và hướng đến tương lai với cái nhìn lạc quan, yêu đời. Bóc tờ lịch cuối cùng của năm cũ, treo lên tường một bloc lịch mới, anh tự hỏi mình:
“Ta làm được gì sau mỗi bước thời gian”
(Tờ lịch)
Anh ước mong cho mình và cho mọi người cuộc sống ngày càng mới mẻ, tươi trẻ. Đó là thái độ sống của một người đầy lòng tự trọng, biết làm chủ bản thân và làm chủ cuộc đời.
Gấp cuốn sách lại, trong tôi vẫn còn đọng lại dư ba cơn “mưa hoang” phiêu lãng xuyên suốt chủ đề của tập thơ Hà Quảng.Tôi biết anh là một thầy giáo dạy văn cấp ba. Đó là một lợi thế để người thơ không chuyên này áp dụng các biện pháp tu từ về từ vựng (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ…) làm cho nghệ thuật chuyển tải nội dung thơ thêm phong phú, đa dạng. Một ưu điểm về nghệ thuật nữa trong tập thơ này là tác giả đã sử dụng linh hoạt các thể thơ tự do, thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát… khá nhuần nhuyễn, giàu âm thanh, hình ảnh, nhạc điệu. Tôi biết có nhiều người viết thơ không chuyên ở lứa tuổi 5x, 6x thường mắc phải cái lỗi viết thơ theo lối mòn, lặp lại nội dung, cách viết của người khác và lặp lại chính mình. Rất may, Hà Quảng không mắc phải cái lỗi ấy.
Nếu có điều gì mong mỏi hơn ở thơ Hà Quảng, tôi mong anh dồn nén cảm xúc trong từng câu chữ hơn nữa, tạo được nhiều câu thơ “ý tại ngôn ngoại” hơn nữa…Và tôi cũng rất tán đồng với ý kiến xác đáng của nhà thơ Mai Bá Ấn: ”…Chúng ta tiếp tục mong Hà Quảng có nhiều hơn những phút “hóa dại khờ” và “hoang đàng”; nhiều hơn nữa những “ngọn tình âm ỉ cháy” cùng những “hoang sơ mộng mị” ngay chính trong lòng mình để chuyển thi pháp từ “có cớ” sang “vô cớ” ngày một thơ hơn”.
Sìn Hồ, ngày 25. 6. 2015.
BÙI THỊ SƠN
(Hội viên Hội VHNT tỉnh Lai Châu- Hội viên Hội VHNT Các Dân tộc Thiểu số Việt Nam- Hội viên CLB Thơ Việt Nam.)

 

Posted in 03. Bình thơ | Leave a Comment »

HÀ QUẢNG VÀ NHỮNG CƠN MƯA bài viết của Lê Nghị

Posted by thinhanquangngai1 trên 29/05/2015

HÀ QUẢNG VÀ NHỮNG CƠN MƯA
(Một cảm nhận khi đọc tập thơ “ MƯA HOANG ” CỦA HÀ QUẢNG )

Tôi biết Hà Quảng khá muộn màng. Có thể nói là rất muộn khi anh sở hữu trong tay ba tập thơ in riêng. Cái dáng người cao cao và khuôn mặt trầm tư của anh khiến cho tôi và mọi ngươi mới gặp gỡ lần đầu cảm thấy có gì đấy hơi khó gần … Thế nhưng khi đọc “Mưa hoang”, tập thơ thứ 3 của Hà Quảng, tôi mới vỡ ra rằng bên trong cái vóc dáng đầy trầm tư ấy chứa nhiều lắm sự rung động nội tâm dữ dội.
Tôi thích đọc ngược thơ. Có lẽ vì tôi muốn đi ngược chiều với tác giả để tìm thấy cái thông điệp ẩn mình trong câu chữ. Và với “Mưa hoang” cũng vậy, tôi đã đọc ngược tập thơ từ bài cuối về trước.
Bài “Chiều mùng ba Tết”, Hà Quảng đã để lại trong tôi cái ấn tượng đầu tiên của cái ấm áp đầu xuân khi các em về thăm Thầy cũ. Tiếng cười giòn tan chiều đầu năm tưởng chừng ngọt như kẹo gương ấy được pha thêm chút hương vị của đất trời:
“Giọt mưa xuân rơi rơi
Trên thềm xưa lối cũ
Giọt mưa xuân ấp ủ
Giấc mơ nào cho em…”
Theo kinh nghiệm của các cụ lão nông thì cơn mưa đầu tiên vào những ngày đón chào năm mới là cơn mưa lành, con mưa báo hiệu một năm đầy an vui và sung túc. Phải chăng Hà Quảng cũng muốn vậy và gửi vào chiều mùng ba Tết một cơn mưa như thế?
Hà Quảng và những cơn mưa đã dẫn dắt ký ức đi từ miền xa hút với những rung động nội tâm đầy ắp nỗi niềm:
“Một chiều mưa bên kia sông Vệ
Anh lặng thầm theo ký ức thời gian…”
(Tiếng mưa rơi)
để rồi Hà Quảng nhớ một thời
“… Em của ngày thuở còn đi học
Chiều tan trường trời đổ cơn mưa”
(Tiếng mưa rơi)
và …
“Em xa xôi hiện về nơi bến vắng
Mưa nhòa từng giọt mưa rơi”
(Tiếng mưa rơi)
Thú thật là tôi cũng đã từng ngồi nhìn mưa, nghe mưa nhưng chưa bao giờ thấy “mưa nhòa từng giọt mưa”. Nỗi nhớ ở đây đã được Hà Quảng chồng lên, chất ngất yêu thương. Mưa đi xuyên qua thơ Hà Quảng từ phố thị đến những miền quê:
“Mưa về trên Đồng Cát
Thị trấn nhỏ bình yên…”
(Chiều mưa Đồng Cát)

“ Một chiều mưa bên kia cầu sông Vệ
Anh lặng thầm theo ký ức thời gian…”
Mưa trong “Mưa hoang” đã kéo Hà Quảng đi về miền xa lắc, tận sâu trong miền kí ức:
“ Em bỏ quên cơn mưa chiều năm ấy
Đường Sài Gòn ngập lối anh đi…”
(Bao điều muốn nói)
Để rồi Hà Quảng
“…Câu thơ không cánh mà vương
Để thương, anh nhớ con đường mưa xưa”
( Mưa xưa)
Tôi không thích nhặt từng từ, ghép từng chữ của Hà Quảng để tìm cho mình một sự đồng cảm. Nhưng thực sự, Hà Quảng đã lôi mưa đi khắp cuộc hành trình từ tháng ba, tháng bảy đến tận cuối mùa đông
“ Mưa tháng bảy sao buồn rười rượi
Cầu Ô kia em có đi về…”
(Mưa tháng bảy)
Và rồi
“giữa tháng mười rồi em
ngoài trời đang đổ cơn mưa”
(Giữa tháng mười)
Để rốt ráo lại thì “cơn mưa hoang rong chơi về phía biển” và
“Cơn mưa hoang lặng im
Em thấy mình đơn côi”
(Mưa hoang)
Tôi không là nhà phê bình lý luận văn chương, nên cảm nhận lan man từ những gì “Mưa hoang” mang lại nó không đầu không cuối. Cái bất chợt mưa nắng của Hà Quảng là sự dồn nén ký ức, là sự bùng vỡ của nội tâm mà chẳng biết vô tình hay cố ý mà tác giả đã dắt mưa đi theo kiểu của mình. Sự phân tích kết cấu và ngôn từ thì dành cho các nhà chuyên nghiệp, tôi không dám lạm bàn.
Đứng về góc độ độc giả, tôi chỉ muốn khép lại bài cảm nhận của mình bằng một câu hỏi thôi. “Vì sao tác giả đặt tên cho tập thơ này là MƯA HOANG mà không phải là MƯA HOAN”
Chắc chắn Hà Quảng cũng không muốn trả lời câu hỏi này nhưng trong một sat – na nào đó, tôi tin Hà Quảng và những cơn mưa sẽ mang theo nhiều khúc hoan ca tình ái.
U Minh Thất, 29. 5. 2015
Lê Nghị

Posted in 03. Bình thơ | 1 Comment »

Nhà thơ Lâm Anh: Cũng vì người mà trổ hết mùa bông

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/01/2014

Lam Anh

NHÀ THƠ LÂM ANH: Cũng vì người mà trổ hết mùa bông

 @ Vương Chi Lan

 Nhà thơ Lâm Anh đã ra đi. Tin buồn ấy bạn bè liên tục truyền nhau. “Quá giang thuyền ngược” còn đây, những trang thơ còn đó, giọng người đọc thơ sau cơn bệnh còn chưa rõ.

 Lâm Anh là người mà suốt một đời mong mỏi góp mặt trên đời một tác phẩm nhỏ nhoi trước khi về “xứ khác”. Những người bạn, những người em, đã góp mặt chung tay để có được cái ngày vui mừng xúc động. Những người đã cùng tôi chăm chút tập thơ “Quá giang thuyền ngược” cho đến giờ phút cuối cùng đứa con tinh thần của Lâm Anh ra đời. Người mà tôi cảm động nhất đó là anh Lê Vinh Út, anh chọn Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, Lâm Anh | 3 Comments »

Lâm Anh, dòng thơ của kẻ bị lưu đày

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/01/2014

Lâm Anh, dòng thơ của kẻ bị lưu đày

@ Nguyễn Lệ Uyên

Lâm Anh sinh năm 1942 ở Quảng Ngãi. Ông thuộc thế hệ chúng tôi nhưng cách tôi một khoảng năm tháng khá xa. Biết và đọc ông khá lờ mờ và không nhiều, khi ông còn là cán bộ ngành thông tin ở một huyện nhỏ quê nhà, trong nhóm Trước Mặt của Phan Nhự Thức. Mãi tới năm 2004, tình cờ gặp ông ở Đà Lạt và tình cờ được nghe ông đọc thơ của chính ông trong bữa rượu mới nhận ra: ông có nhiều con người trong một người. Ông la đà trong men rượu và thơ la đà trong ông giữa ngọn đồi đầy cỏ hoa và đêm xuống nhập nhòa. Thật bất ngờ: bất ngờ bởi chất thơ lạ, bởi giọng đọc lạ, gần như chất giọng ấy đã lột truồng tất cả tứ trong thơ, lột truồng chính ông, lột cả màn đêm để đắm chìm vào cõi khác, bồng bềnh mênh mông… tưởng chừng như ông đang trầm mình trong đáy hồ Xuân Hương vọng lên những tiếng chép miệng não nuột một kiếp người:

Như thể mày vừa ra khỏi núi
chống gậy bằng vai chống trên vai
đôi chân ngâm rượu lâu ngày ấy
chợt rã vào tao những hớp đầy…
Muốn thụi cho nhau đau mấy cú
cho rã tan thêm nỗi lục bình
nghĩ thương con nước không còn sức
ngầu bọt vào em ở cuối đường
Thôi tao về
nói sao cho hết
mặc mẹ mặt trời mọc ở đâu
chớ mở bàn tay ra hỏi thử
đã cầm bao nhiêu cõi nổi trôi
(Gặp Hạ Đình Thao).

Vậy đó, chất giọng nghẹn ngào rung lên tứ thơ lộc cộc như thể đang bước trên đoạn đường đầy Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB5, Lâm Anh | Leave a Comment »

Hà Quảng và nỗi niềm cùng sông Vệ

Posted by thinhanquangngai1 trên 19/08/2013

Hà Quảng và nỗi niềm cùng sông Vệ

Lời xưa anh lỡ thốt
Em dỗi hờn quay đi
Để chiều nay bạc tóc
Xa rồi, sông Vệ ơi!

(Xa rồi, sông Vệ – Lê Quang Tân)

Với chiều dài hơn 80km, sông Vệ là con sông lớn thứ hai sau sông Trà Khúc trên quê hương Quảng Ngãi. Khởi nguồn từ non cao, sông Vệ chảy qua các huyện Mộ Đức, Nghĩa Hành và Tư Nghĩa, đổ ra Cửa Đại, Cổ  Lũy rồi hòa mình vào biển Đông. Cùng với sông Trà Khúc, sông Vệ cũng ghi một dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời và trong thơ bao lớp thi nhân sinh ra và lớn lên bên dòng sông ấy. Nhà thơ Hà Quảng – một người con của Nghĩa Hiệp, nằm ở bờ Bắc sông Vệ đã đem vào trong thơ mình hình ảnh con sông “đầy mộng ảo” cùng một chuyện tình mong manh nhạt nhòa như sông nước quê hương:

Sông Vệ

Em có về thăm sông Vệ
Dòng nước trong thương nhớ đôi bờ
Cô gái nhà bên lấy Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, Hà Quảng | Leave a Comment »

Thao thức cùng Hà Quảng – Hương Thuỷ

Posted by thinhanquangngai1 trên 30/03/2013

Thao thức cùng Hà Quảng

Sao có chi thao thức
Trời Quảng Ngãi mưa bay
Ai âm thầm lặng lẽ
Nhớ dáng ai hao gầy

Một vì sao lấp lánh
Thao thức hoài trong đêm
Trăng gối đầu song cửa
Giấc mộng nào dịu êm

Chiều Sông Vệ ngẩn ngơ
Dòng suy tư chầm chậm
Em có nghe tiếng sóng
Nắng gió chiều bâng quơ

Con đường xưa em qua
Trăng mấy mùa giăng lối
Nỗi niềm xưa bối rối
Thao thức đầy trang thơ

Tình yêu nào thầm lặng
Để bây giờ ước ao
Cơn gió nào lao xao
Để hồn ai thao thức.
Hà Quảng

   Một người bạn cũ của tôi nói rằng: Hà Quảng hiền hiền, quê quê nên thơ của anh ấy cũng quê quê, hiền hiền. Tôi cũng thấy thế. Nhưng đến khi đọc “Thao thức” của Hà Quảng, tôi mới ngộ ra rằng: Bên trong Hà Quảng còn có những tâm tư như sóng ngầm sông Vệ, chỉ cần một chút gió sẽ dạt dào xô bờ cát.

                         Sao có chi thao thức
                        Trời Quảng Ngãi mưa bay
                        Ai âm thầm lặng lẽ
                       Nhớ dáng ai hao gầy

Câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ đã thể hiện một nỗi niềm trăn trở. Thao thức vì mưa bay hay mưa bay làm thao thức, chắc tại cả hai. Cái lý do để mà thao thức tưởng cụ thể, rõ ràng hóa ra chẳng rõ ràng, cụ thể. Một từ “ai” mà hai đối tượng. Nỗi nhớ âm thầm, lặng lẽ với dáng hao gầy của một ai đó. Hóa ra, thao thức là vì nhớ. Nỗi nhớ tưởng như mơ hồ, xa xăm, tưởng như Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB1, Hà Quảng | Leave a Comment »

Chân thành mộc mạc thơ – Thanh Thảo

Posted by thinhanquangngai1 trên 23/03/2013

Bia-thaothuc-haquang

 CHÂN THÀNH MỘC MẠC THƠ

Hà Quảng có những năm tháng dạy học ở đảo Lý Sơn, nên Lý Sơn vào thơ anh thật hơn những bài báo tuyên truyền vẫn viết về “hòn đảo tỏi” này:

“ anh có những ngày mùa đông Lý Sơn

lúc thiếu gạo, đèn dầu không thắp được

và anh có em như có niềm ao ước

kỷ niệm dồn về bão tố mùa đông”

( Mùa đông Lý Sơn)


Thơ không phải tân văn, không phải báo chí truyền thông. Giữa nhiều con đường đưa thơ tới người đọc, Hà Quảng chọn con đường chân thành mộc mạc. Thơ thường ưa vụng hơn khéo, mộc hơn Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, Hà Quảng, Thanh Thảo | Leave a Comment »

“Bến quê” của Hà Quảng – Hương Thủy cảm nhận

Posted by thinhanquangngai1 trên 15/03/2013

Bến quê

Có một bến quê em thường gội tóc
Con sông quặn lòng nỗi nhớ mong
Nơi bến ấy cát mòn chờ đợi
Thời gian trôi em bỏ bến theo chồng

Nơi bến ấy có lần ta hò hẹn
Vạt nắng trên sông xõa tóc rơi mềm
Sao cớ chi những chiều Sông Vệ
Hồn bâng khuâng chiếc lá bên thềm!

Em rất thực mà sông đầy mộng ảo
Nên suy tư anh tiếc nuối những chiều…
Bến sông quê mang dáng hình xa lắc
Vệt thời gian mỏi mòn thương yêu!
Hà Quảng

Hồn tôi neo đậu “Bến quê”! Xin mượn ý của một nhà thơ để gửi gắm tâm trạng của tôi khi đọc “Bến quê” của Hà Quảng! Một bến quê vời vợi nhớ thương! Một bến quê khắc khoải mong chờ!

Có một bến quê em thường gội tóc
Con sông quặn lòng nỗi nhớ mong
Nơi bến ấy cát mòn chờ đợi
Thời gian trôi em bỏ bến theo chồng

Một bến quê chung chung, giông giống như bao bến quê, nhưng bến quê làm “ Quặn lòng nỗi nhớ mong” ắt hẳn chẳng có, có bến quê thứ hai với Hà Quảng. Nơi ấy “em thường gội tóc”, nơi ấy có em! Người ta nói Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, CB5, Hà Quảng | Leave a Comment »

“Tháng ba với Long Sơn” và bài cảm nhận của Hương Thủy

Posted by thinhanquangngai1 trên 15/03/2013

Tháng ba với Long Sơn

Thác Sa Vanh có từ ngàn năm trước
Để Long Sơn đẹp đến nao lòng
Cánh đồng bậc thang phủ màu con gái
Tiếng chim rừng rưng rức gọi tháng ba.

Tháng ba này anh về lại Long Sơn
Bao yêu thương dòng Phước Giang thuở ấy
Khúc nhạc bổng trầm nhớ nhung còn đấy
Nên ráng chiều chênh chếch ngỏ lời yêu

Nếu không em chắc chi anh về nơi ấy
Dòng Phước Giang đâu thơ mộng đến giờ
Thác Sa Vanh chải tóc mềm mỗi sáng
Anh lặng thầm đâu có được trang thơ

Em và Long Sơn trở thành kỷ niệm
Để thác Sa Vanh hát khúc nhạc tình
Bóng nhà liêu xiêu bên triền hoa dại
Anh thả hồn với nắng gió quê em.

Hà Quảng

Bài thơ của Hà Quảng dễ thương quá! Y như một bức tranh phong cảnh vậy.Mình chưa từng thấy, chưa từng nghe những địa danh trong bài thơ như: Long Sơn, thác Sa Vanh, dòng PhướcGiang, nhưng đọc “Tháng ba với Long Sơn”, thấy cảnh ở đây hùng vĩ, nên thơ mà rất Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB5, Hà Quảng | Leave a Comment »

Nguyễn Tấn On – Những vần thơ thấm đẫm hồn quê

Posted by thinhanquangngai1 trên 13/01/2013

Nguyễn Tấn On – Những vần thơ thấm đẫm hồn quê

* Lê Ngọc Trác

hinh_nguyentanon-baiviet-lengoctrac“Nhớ quê vấp vạt cỏ may
Tổ chim Dồng Dộc làm giày đá banh

Đồng dao con chim manh manh
Cây đa chú Cuội trên cành cây sung

Sân đình gõ trống thùng thùng
Cơm sôi lệch chiếc nắp vung lửa cười

Lúa vàng thơm nắng hạt tươi
Mẹ sàng, mẹ sảy trên mười ngón tay

Cánh diều lộng gió mây bay
Ở quê, mơ thấy giữa ngày, nhớ quê”

(Trích trong tập thơ “99 bài lục bát” của Nguyễn Tấn On)

Chỉ với 10 dòng thơ lục bát ngắn gọn, cô đọng, Nguyễn Tấn On đã nói lên nỗi lòng của mình trong những ngày về thăm lại quê hương. Trong chúng ta ai cũng thế. Xa quê. Nhớ quê. Mong một ngày trở về nơi thân yêu. Ấy thế! Mà ngày về, nhìn dòng sông, nhìn Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB1, Lê Ngọc Trác, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Nguyễn Tấn On – người mê đắm thơ ca

Posted by thinhanquangngai1 trên 19/12/2012

NGUYỄN TẤN ON, NGƯỜI MÊ ĐẮM THƠ CA
(Đọc 99 bài lục bát, Nxb Văn học,  2012)

@ TRẦN HOÀNG VY

     Góp mặt trong 33 tập thơ in chung trong cả nước và có riêng cho mình 7 tập thơ, Nguyễn Tấn On quả đúng là người “Mê đắm thơ ca!”

     Mới gặp On ở Đà Lạt, phấn khởi ký tặng tôi tập thơ song ngữ (Việt – Anh) Thoát nắng xuất bản năm 2010, thì hay tin Nguyễn Tấn On bệnh hiểm nghèo phải vào bệnh viện chữa trị và phẩu thuật. Lần gặp On mới đây nhất là tháng 3/ 2012, On vừa mới ra viện, sắc diện rất xấu, thương On và lo ngại cho bạn… song Nguyễn Tấn On đã chứng tỏ quyết tâm và nghị lực, dù biết mình mang căn trọng bệnh, qua việc cho phát hành tiếp tập thơ 99 bài Lục bát với lời giới thiệu của Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB7, Nguyễn Tấn On, Trần Hoàng Vy | Leave a Comment »

“Vết xước” thành “ngọc” nên “trầm” trong thơ Phan Bá Trình

Posted by thinhanquangngai1 trên 21/11/2012

“Vết xước” thành “ngọc” nên “trầm” trong thơ Phan Bá Trình

 Tôi có thói quen lang thang trên mạng tìm đọc thơ văn của nhiều tác giả, trong những lần ấy bắt gặp weblog “Thiên Ấn – Trà Giang” của người quen cũ “Phan Bá Trình”. Tôi gặp và tiếp xúc trong công việc với Trình cách đây 20 năm, thời gian vừa đủ độ tuổi người thanh niên trưởng thành. Vài lần trao đổi, tôi có thông tin về Trình, anh đã chuyển công tác và giảng dạy ở Trường Đại học Phạm Văn Đồng, là thạc sĩ toán học, hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi. Riêng Trình làm thơ và có những niềm đam mê khác thì sau này chơi thân với nhau tôi rõ hơn!.

Quê Phan Bá Trình ở La Hà, nơi mà tuần phủ Nguyễn Cư Trinh đã tìm ra một trong mười hai danh lam thắng cảnh của Quảng Ngãi: “La Hà thạch trận”. Có lẽ, chính vùng đất hữu tình này đã hun đúc, ấp ủ và nâng cánh cho hồn thơ của anh. Xuất thân từ một gia đình có truyền thống làm công tác giảng dạy, anh cũng từ một giáo viên, cán bộ quản lý và sau này là giảng viên. Thấm thoát cũng gần ba mươi năm công tác ở ngành giáo dục, ngoài giờ dạy học anh còn là nhà sưu tập cổ vật – đá cảnh, viết thư pháp, chơi cây kiểng… và sáng tác thơ. Những tác phẩm của anh được đăng tải trên một số báo, tạp chí trong và ngoài tỉnh, một số tuyển tập thơ trong nước.

Một buổi sáng cuối hạ, ngồi với vài người bạn thơ tại quán cà phê gần nơi ở của anh, Phan Bá Trình trải lòng mình về bản thảo tập thơ “Vết xước”:  “Nó là kỉ niệm, cảm xúc bất chợt về quê hương, cảnh vật, tình yêu, cuộc sống… là những đứa con tinh thần của mình!”. Thật may mắn cho Trình là bản thảo tập thơ được chuyền tay nhau, và mỗi người bạn làm một việc. Người thì biên tập, người thì viết lời bạt, lời cảm nhận, lời bình; còn nhạc sĩ chọn bài phổ nhạc, nghệ sĩ diễn ngâm cùng tác giả chọn bài thể hiện. Chỉ trong vòng một tuần là Phan Bá Trình có một DVD thơ gồm 18 bài trình làng. Bạn bè đùa vui: “Ở Quảng Ngãi, Trình chỉ đứng sau một người và đứng trước nhiều người!?”. Tính Phan Bá Trình là vậy! Không làm thì thôi, đã làm thì làm đến nơi đến chốn, kể cả trong tập thơ anh cũng cẩn trọng, chắt chiu đến từng câu chữ, từng phụ bản, hình ảnh minh họa… sự hoàn thiện, chỉn chu là nét riêng của anh.

Đọc 80 bài thơ trong tập “Vết xước” của Phan Bá Trình, có lẽ mỗi người đều có cảm nhận khác nhau, từ thơ truyền thống: Đường luật, lục bát đến thể thơ mới. Anh có cách thể hiện pha trộn và sáng tạo, sử dụng câu chữ thuần Việt và ngôn ngữ đặc trưng thổ âm xứ Quảng. Ta có thể bắt gặp nhiều từ anh dùng thật Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB5, Hồ Nghĩa Phương | Leave a Comment »

Bài thơ “Bến quê” của Hà Quảng

Posted by thinhanquangngai1 trên 09/09/2012

Bài thơ “Bến quê” của Hà Quảng

 @Nguyễn Mạnh Hùng

Thầy giáo, thi sĩ Hà Quảng – bạn tôi ! Hà Quảng là người có lòng trăn trở với dòng sông Vệ. Con sông Vệ có bao nhiêu cái bến, nhà Hà Quảng có ở gần cái bến nào không? Thuở trai trẻ anh ta có cuộc tình nào dang dở nơi cái bến quê đó? Điều đó chỉ một mình Hà Quảng biết và con sông Vệ biết. Nhưng  một điều chàng thi sĩ Hà Quảng đã gửi đến người đọc một bài thơ tình hay.

Bài thơ có tựa đề rất quê: “ Bến quê” – được tuyển chọn in trong tập “99 bài thơ tình chọn lọc” – Văn thơ Việt – Nhà xuất bản Hội nhà văn 2012.

Bến quê

Có một bến quê em thường gội tóc

Con sông quặn lòng nỗi nhớ mong

Nơi bến ấy cát mòn chờ đợi

Thời gian trôi em bỏ bến theo chồng

Nơi bến ấy có lần ta hò hẹn

Vạt nắng trên sông xõa tóc rơi mềm

Sao cớ chi những chiều Sông Vệ

Hồn bâng khuâng chiếc lá bên thềm!

Em rất thực mà sông đầy Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB5, Hà Quảng | Leave a Comment »

Lục Bát – Chiếc nôi đưa của những tâm hồn thuần Việt

Posted by thinhanquangngai1 trên 10/07/2012

Lục Bát – Chiếc nôi đưa của những tâm hồn thuần Việt

* H.MAN

 

Nhị cú tam niên đắc

Nhất ngâm song lệ lưu

Tri âm bất đồng thưởng

Quy ngọa cố sơn thu

                                   (Giả Đảo)

 

(Ba năm nghĩ được hai câu thơ vừa ý. Ngâm lên một lần đổ hai hàng nước mắt. Không có người tâm đắc đồng thưởng lãm. Về mà nằm ở núi thu xưa).

Cái “núi thu xưa” của Giả Đảo nằm ở đâu? Phải chăng đó là nơi chốn để tìm về, để khắc khoải, để nhớ nhung? Một cõi miền trong cõi miền khác, mà mùa thu nhuộm vàng tâm hồn hầu hết những thi nhân. Tự trong tâm hồn nhà thơ đã có cái mùa thu ấy, cái cõi ấy: – cõi thơ – Thơ lục bát cũng vậy.

Người làm thơ không bận tâm tra vấn Thơ lục bát có từ bao giờ, ảnh hưởng đến Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB7, H'man, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Thành Dũng – Gánh lục bát hát trong vườn khuya…

Posted by thinhanquangngai1 trên 13/06/2012

Thành Dũng – Gánh lục bát hát trong vườn khuya…

Người viết: Trần Huy Minh Phương

Nhà thơ Thành Dũng (tên thật cũng là bút danh khác: Trần Thanh Dũng) sinh năm 1966, tại Mộ Đức – Quảng Ngãi, là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng, hiện là Trưởng Văn phòng Công chứng Thanh Dũng. Anh đã có nhiều tác phẩm in chung và in riêng.

 

“Lục bát hái trong vườn nhà tôi” là tập thơ thứ ba của nhà thơ Thành Dũng vừa xuất bản, tháng 3 năm 2012. Dòng tâm cảm Quảng Ngãi – Sóc Trăng hòa quyện thành dòng chảy xúc cảm chân thành của người con quê yêu da diết, nhớ cùng tận, sống cháy lòng cùng hai chữ duyên – nợ với quê. Nhà thơ đã sống, đã đắm mình trong lời ru của bà, hồn ca dao, thần thái điệu lí neo trong nếp nghĩ để khi câu thơ vụt lên lại có chất lấp lánh của những hạt phù sa chảy quanh triền sông Hậu – sông Trà.

Giữa cuộc sống náo thị và nhiều thể nghiệm thơ kiểu tự do đương đại thì Thành Dũng vẫn cần mẫn với những phút lắng lòng riêng giành cho hồn mình trở về với lối thơ dân tộc: lục bát. Anh cứ mải miết gánh câu thơ lục bát hát trong vườn khuya dâng đời và cảm khoái tiếng lòng tuôn ràn rạt. 39 bài lục bát xinh xắn như những nốt nhạc đầy tâm trạng. Trong vườn thơ ấy dễ thấy bật nổi những giọt thơ tình yêu dân dã, gần với ca dao, những tưởng có lúc nó lấn sang rìa đô thị kiểu @ yahoo.com nhưng vẫn không Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, CB1, Thành Dũng | Leave a Comment »

Đọc “Hà Nội cũ” của Đinh Tấn Phước

Posted by thinhanquangngai1 trên 02/06/2012

ĐỌC “HÀ NỘI CŨ” CỦA ĐINH TẤN PHƯỚC

        Thời gian qua, tôi nhận nhiều thư của các em học sinh cũ đang ở Hà Nội.  Tình cảm các em dành cho Hà Nội thật sâu sắc và mãnh liệt làm tôi nhớ bài thơ “Hà Nội cũ” của tác giả Đinh Tấn Phước trong tập “Gió mùa” mà bạn đã tặng tôi từ lâu:

có một Hà Nội rất cũ
như bờ đê
chiều Yên Phụ
              lối mòn gót cỏ
gánh hàng hoa tan chợ đi về

có một Hà Nội rất xưa
như là cổ tích
những mái đình cong võng điệu thời gian
một Hà nội rêu phong
ven dòng sông Tô Lịch
ông đồ nho vẽ chữ
                             bán bên đường

có một Hà Nội mùa đông
những cây bàng đỏ bầm chết rét
tiếng dương cầm lạnh ngắt
rơi từng giọt khói sương

có một Hà Nội rất thơ
như mùa thu và giọng nói
một Hà Nội cửa ô, một Hà Nội ả đào
ba mươi sáu phố phường
                                       bờ hồ liễu rủ…

anh vẫn yêu Hà Nội cũ
chưa cầu Thăng Long
không xe cộ ngợp trời
không nhà mái bằng
không chợ người khổ lụy…

khi Hà Nội còn trong anh… rất trăng!                

 

        Tập thơ “Gió mùa” của Đinh Tấn Phước do Nxb Hội Nhà Văn xuất bản vào tháng 12 năm 2003. Tập thơ có ba bài biểu lộ cảm xúc của tác giả về Hà Nội, đó là Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB5, Đinh Tấn Phước | Leave a Comment »