Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 453,178 Lượt

Archive for the ‘04. Bài viết’ Category

Các bài viết về thơ có nội dung liên quan đến đất và/hoặc người Quảng Ngãi

NGUYỄN TẤN THÁI Viết.”ẨN NGỮ – SÁNG TẠO TRONG ( PHƯỢNG XƯA Của Nguyễn Tấn On )

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/10/2017

NGUYỄN TẤN THÁI VIẾT. ẦN NGỮ SÁNG TẠO – TRONG PHƯỢNG XƯA CỦA NGUYỄN TẤN ON

ẨN NGỮ-SÁNG TẠO TRONG
“PHƯỢNG XƯA” của Nguyễn Tấn On

Hiện tại trong cuộc sống tất bật đời thường vẫn còn có những con người miệt mài với từng trang viết, kham khổ, đánh vật với từng câu chữ văn chương, trăn trở với từng gam màu, nét bút, thâu đêm với từng dòng nhạc, hợp âm…là một điều đáng quý, đáng trân trọng .Trong số những con người đáng quý ấy có nhà thơ Nguyễn Tấn On, tác giả của “Phượng xưa”.Tôi chưa hề trực diện gặp anh, chưa từng thẩm định văn chương cùng anh. Chỉ gặp nhau qua những bài thơ in trên các tạp chí và sự hạnh ngộ qua tập “Phượng xưa” (NXB Vănnghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001)
Tập “Phượng xưa” gồm 50 bài và một nhạc phẩm “Chiều Đà lạt”(do Phạm Anh Trung phổ thơ Nguyễn Tấn On).Độ dày của tập thơ vừa phải đủ để người đọc cảm thức phần nào nỗi niềm thi nhân gởi gắm trong đó.
Tôi không có ý định trình bày suy nghĩ của mình về toàn bộ các khía cạnh ẩn chìm trong tác phẩm, chỉ xin giải bày đôi nét về ẩn ngữ sáng tạo qua thi tập này.
Với bài mở đầu “Tiếng thời gian”, tác giả nhẹ nhàng diễn tả bước đi thời gian từ
chiều tà dịch chuyển sang bóng tối của một ngày qua hình ảnh người em “ cầm vạt nắng” chiều .Người em ấy hờ hững đánh rơi một hồi chuông giáo đường trong chiều lấp lóa nắng xuân. Nguyễn Tấn On sử dụng các biện pháp tu từ, từ vựng ( nhân hoá, ẩn dụ, cường điệu…) một cách tự nhiên, thuần thục nhằm chuyển đổi ý nghĩa thực-thường dùng của từ ngữ sang nét nghĩa ẩn- mới lạ hơn để diễn tả những biến thái tinh tế của tâm tư, tình cảm nhân vật trữ tình.
MÙA ĐẦU. HẠ. ĐÀN PHƯỢNG . NGHIÊNG MÙA… đêm đến cho người những tiếp nhận thú vị lạ lẫm, những biến thái tinh vi của một hồn thơ đa chiều cảm xúc.
Tiếng trống trường thường gợi cho người tiếp nhận ẩn dụ cảm giác về âm thanh bỗng trở nên cụ thể hơn, có hình khối hơn khi tác giả dùng ẩn ngữ sáng tạo :

Bâng khuâng
Vấp tiếng
Trống trường
Hồn ta té ngã
Hạt sương đầu mùa

Tương tự như thế, người cảm thụ thơ dễ dàng rung ngân, thấy là lạ bởi lối diễn tả linh diệu, uyển chuyển”Giật mình rớt một tiếng ve, nghiêng mùa” .”Phượng về vá lại chỗ nằm” và “Búp tay nắm vội.mắt chiều đỏ hoe” .
Tác giả chọn một góc quan sát nhạy cảm và cố gắng phát hiện, nắm bắt trong những mảng màu, hình ảnh bình thường hằng ngày cái “chất thơ” ,” chất nhạc”:

“ Trời mưa ướt cả tiếng chuông
Ướt bông phượng tím ướt nguồn thơ tôi”

Không rõ bông phượng tím bị ướt mưa, hay tiếng lòng thi nhân đang ướt sũng nỗi niềm do MÙA PHƯỢNG TÍM đem lại . Chính “nguồn thơ” bị ướt sũng ấy đã bật lên âm điệu chan hoà cùng tạo vật nhiên thiên” Mây qua phố nhỏ bỗng đùn . Hoàng hôn cũng mất nắng dừng vai thơm”.
Đọc thơ Nguyễn Tấn On ít thấy mệt mỏi, choáng ngợp vì những triết lý khô khan giả tạo, xa lạ với con người mà ta thường gặp trong một số thơ ca manh nha xuất hiện ( hay thơ ca ấy quá cao thâm, người đọc khó đủ trình độ tiếp
thu!) . Trái lại, những gì gần gũi, cụ thể diễn ra xung quanh, qua lăng kính thẩm
mỹ của nhà thơ, trở nên lấp lánh chất thơ, lôi cuốn độc giả . Có lẽ, LỜI ĐÁ là bài thơ ẩn chứa triết lý sâu xa( nhưng không cầu kỳ, bí hiểm) về mối quan hệ giữa “hồn sông”,“hồn suối” và thân phận hiện hữu của con người trong vũ trụ bao la tiềm tàng nhiều điều kỳ diệu chưa được khám phá:

Ta chỉ là đá cuội
Lăn vào hồn mai sau
Ngày có vội qua mau
Ta vẫn mang hồn núi
Mai cạn qua con suối
Ta ôm bờ cỏ lau…

Những dòng nhạc sâu lắng, đầy chất suy tư của Trịnh Công Sơn bất chợt sống dậy trong hồn tôi qua lời thơ “lốc xoáy” của Nguyễn Tấn On “…từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe” và “ Lại thấy trong ta hiện bóng con người” Không biết giữa hai con người từng sinh ra, trưởng thành trong thế kỷ XX này có một sự hoà điệu, Giao cảm nào khác, ngoài văn chương và âm nhạc ?

“Giữ dùm một chút nắng
Cho ấm bờ hoang vu”

“Chút nắng” mà anh nhắn gởi, chúng tôi sẽ thay anh giữ hộ và ấp ủ mãi nó trong lòng khi đọc thơ Nguyễn Tấn On.Đôi lúc đọc thơ anh, tôi liên tưởng mình đang đứng trên bờ hồ Xuân Hương, hồ Than Thở. Trên bờ, nhìn thoáng qua, chỉ thấy sóng lăn tăn trên mặt nước. Nhưng muốn thưởng thức cái đẹp kỳ vỹ, ta thử lặn sâu vào đáy hồ lục sạo, tìm kiếm trong ấy có những bí ẩn hấp dẫn nào.
Tôi đã không hoài sức, phí công khi sục sạo trong đống câu chữ “Phượng xưa” để tìm ra tinh thể lóng lánh sắc màu:

“Sớm mai Chiêm nữ lên đền hát
Chân múa chạm mòn đất, gạch, vôi”
( Hành hương )
Em sơn nữ gùi bóng chiều xuống phố
Khu Hoà Bình chùm phượng tím rưng rưng
(Chiều Đà Lạt)

Ắt hẳn vũ điệu Chăm lưu dấu tích trên đền đài, cổ tháp khiến hồn thơ xáo động mãnh liệt đến độ”chạm mòn đất, gạch, vôi” trêntường xưa, vách cũ.Một Xuân Diệu táo bạo, nhân văn khi gợi cảm “Tháng giêng ngon như một càp môi gần”. Còn Tấn On lại đằm thắm, trữ tình khi cảm được mùi “thơm lừng hương cây cỏ”, “ cười nụ tháng giêng”, nghe “tiếng tách vỏ đâm chồi”.” hạt trổ mùa bông” của “ Tháng giêng“ mở đầu năm mới.Không chỉ giao cảm với cuộc sống- con người, không chỉ dự cảm về tương lai- thời sẽ đến,thơ của tác giả “Hồn quê” dấn thân đào xới , khai thác cách thể hiện khác lạ,buộc người đọc ngẫm nghĩ, suy tư tìm ra ẩn số dưới bề mặt chữ, câu.“Hồn cát” là minh chứng cho hướng khai phá mới này:

“Gió xô bỏng xước cành thương
Trổ hoa giữa cõi vô thường cát ơi”

Ngọn gió- vô thường trong cõi thế tục khiến thi nhân rát bỏng nỗi thương đời, thương mình. Đêm về bên “rượu tràn ly”, thi sĩ đắm chìm trong nỗi nhớ về “tháp Hời sử thi”, về”mắt ai hoang dại”…để hồn thơ”trổ hoa giữa cõi đời thường”
Lần theo từng trang thơ “Phượng xưa”, ta cũng dễ bắt gặp kiểu ẩn ngữ sáng tạo mà người con đất Quãng Ngãi dụng công thể hiện . Đó là “Dáng em mềm như lửa” .”Núi và biển thực lòng như lửa”. Và đó cũng là:

“Em dậy thì đắp mảnh trăng Vỹ Dạ”
Tôi không dụng ý đi sâu mổ xẻ, phân tích tỉ mỉ cái hay, cái đẹp của từ ngữ thơ, hình ảnh thơ trong “Phượng xưa”. Chỉ mong muốn góp chút thành tâm đối với người bạn thơ cư ngụ nơi xứ sương mù – Đà Lạt. Hy vọng bài viết như một sự tri âm của kẻ trót lỡ yêu thơ ca, chân thực bày tỏ một đôi điều.

Nguyễn Tấn Thái

Advertisements

Posted in 04. Bài viết, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Hà Quảng viết về tiểu thuyết”CÕI HỒNG” Của Bùi Minh Vũ

Posted by thinhanquangngai1 trên 04/09/2017

TIỂU THUYẾT “CÕI HỒNG” CỦA BÙI MINH VŨ

Bùi Minh Vũ sinh ra và lớn lên ở một làng quê thuộc vùng biển xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhưng từ năm 1982, anh đến định cư lập nghiệp và sinh sống tại thành phố Buôn Ma Thuột. Anh là nhà thơ, nhà sưu tầm truyện cố M’nông, nhà biên khảo văn hóa dân gian Tây Nguyên…Bùi Minh Vũ đã ra mắt bạn đọc 14 tác phẩm và sắp in 2 tác phẩm nữa. Vừa rồi anh rẽ lối “sang ngang” thử nghiệm vào thể loại tiểu thuyết và cuốn tiểu thuyết “Cõi hồng” của anh do Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam ấn hành vào tháng 5. 2017.
Tiểu thuyết “Cõi hồng” có 3 chương, gồm 132 trang. Trong tác phẩm này, anh lấy mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng và gió để làm không gian nghệ thuật. Vì vậy, chúng ta bắt gặp hình ảnh Tây Nguyên trong “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ vào mùa khô “ Tây Nguyên bước vào mùa khô. Nước cạn kiệt. Cái nóng râm ran không oi bức như Sài Gòn nhưng hanh heo không kém Quảng Trị…” (trang 36). Bùi Minh Vũ đi nhiều, biết nhiều nên anh có sự so sánh cái nóng của Tây Nguyên với Sài Gòn, với Quảng trị thật thú vị như vậy.
Trong tác phẩm “Cõi hồng”, Bùi Minh Vũ đưa hàng chục nhân vật vào trong tác phẩm, có những kẻ là côn đồ du côn, đến những anh cán bộ tham quyền nhũng nhiểu hách dịch; là những thanh niên, thanh nữ đương thời thích xăm hình vào những nơi có độ nhạy cảm và những người lính sau khi rời quân ngũ không tìm được việc làm ổn định cho cuộc sống đời thường…Những lễ hội của đồng bào các dân tộc Ê đê, M’nông.. ở Đắk Lắk cũng được anh đưa vào trong tác phẩm này.
Chính vì vậy, khi đọc tiểu thuyết “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ, ta cảm thấy như đang sống ở vùng đất Tây Nguyên và biết được nhiều nét sinh hoạt của người dân; đặc biệt là các phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc, được Bùi Minh Vũ thể hiện thật sâu sắc trong mùa lễ hội.
Từ một không gian rộng lớn, Bùi Minh Vũ đưa người đọc đến thành phố Buôn Ma Thuột nơi anh và gia đình đang sinh sống học tập và làm việc. Thành phố hiện lên trong ngòi bút của tác giả thật thơ mộng: “Buôn Ma Thuột vào đêm, không khí trong lành như thủy tinh xanh. Các quán cà phê đông khách, người ra vào dập dìu. Tôi ghé vào quán cà phê Dubai, nơi tôi và Hưng uống ly cà phê đêm trăng cuối. Từ đây nhìn ra ngoài đường phố Hai Bà Trưng sang trọng với vô số xe ô tô đắt tiền. Đánh bóng cho cung đường này là nhiều khách sạn hạng sang…” (trang 41). Đọc những câu văn như vậy trong “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ chúng ta mới thấy anh sống rất sâu và trân trọng yêu thương đối với thành phố Buôn Ma Thuột thân yêu này.
Trong không gian nghệ thuật đó, tác giả để cho các nhân vật của mình hoạt động một cách thoải mái tự nhiên. Các nhân vật, Bùi Minh Vũ đưa vào trong “Cõi hồng” đều có cá tính, có hoàn cảnh và số phận riêng. Chúng ta có thể bắt gặp các nhân vật ấy hàng ngày trong cuộc sống hiện nay: nơi làm việc, trên đường phố, trong công viên, tại nhà hàng, ở khách sạn, hay các quán cóc cạnh vỉa hè…Người đọc sẽ cảm nhận riêng về các nhân vật này được Bùi Minh Vũ đưa vào trong tác phẩm của mình tùy theo suy nghĩ và mức độ tiếp nhận của mỗi người.
Trong hệ thống nhân vật ấy, chúng ta bắt gặp Thân và Hưng. Đây là hai nhân vật để lại ấn tượng nhiều nhất trong lòng người đọc và đấy cũng chính là hai nhân vật xuyên suốt theo chiều dài của tác phẩm. Hưng là sinh viên mới ra trường, Hưng mơ ước được đứng trên bục giảng làm cô giáo để truyền thụ kiến thức cho các em học sinh, nhưng ước mơ đấy của Hưng chưa có điều kiện thực hiện được. Hưng phải đi làm gia sư kiếm tiền để sinh sống trang trải hằng ngày cho bản thân và gia đình, đột nhiên Hưng trở thành đối tượng hưởng thụ cho tên côn đồ bợm trợn.
Vì vậy mở đầu tác phẩm người đọc cảm thấy lạnh toát mồ hôi khi đọc hai câu văn của tác giả nói về cái chết của Hưng “ Gần nhà hàng T&T sang trọng trên đường Nguyễn Khuyến, nơi tập trung những người có tiền đến để thưởng ngoạn du hí, có một cô gái ra đi đêm qua. Đó là em” (trang 1). Về thế giới bên kia nhưng giấc mơ của Hưng vẫn cháy bỏng, may đâu Hưng gặp được một ông già chỉ hướng để Hưng có điều kiện thực hiện giấc mơ làm cô giáo của mình nơi cõi âm.
Câu chuyện tưởng chừng kết thúc ở đấy, nhưng tác giả Bùi Minh Vũ tiếp tục cho người đọc thấy được hình ảnh của Hưng qua giấc mơ, nối tiếp giấc mơ một cách lờ mờ trong tâm trí của Thân. Thân là người yêu của Hưng. Thân từng là người lính vào sinh ra tử đầy dũng khí nhưng Thân phải “bó tay” , bất lực trước cuộc sống thực tại, bất lực trước công việc được sắp xếp một cách vô cảm; chàng đành buông xuôi trước những cuộc tranh giành quyền lợi, chán chường trước những cảnh ăn hối lộ, những kẻ nịnh trên nạt dưới; công chức, viên chức có những kẻ làm những việc bất lương.
Trong cuộc sống như vậy Thân đành đánh rơi công việc đời thường khi nào mà chàng không hề hay biết. Nhưng trong tâm trí của Thân lúc này, hình bóng của Hưng vẫn in đậm, hình bóng ấy cứ vẩn vơ chìm sâu vào giấc ngủ, in sâu vào nỗi nhớ của Thân, làm cho tâm trí của Thân miên man vất vơ, vất vưởng như điên như dại.
Từng câu văn, từng trang chữ mà Bùi Minh Vũ gửi gắm trong tác phẩm “Cõi hồng” là tiếng gọi của trái tim chân thành mong ước cuộc sống được bình yên, những kẻ gian ác phải bị pháp luật trừng trị, những kẻ hiền lành chất phác sẽ được hạnh phúc; và giấc mơ bình dị nhất của con người phải đạt được. Xã hội công bằng văn mình, mọi người thấy được niềm vui trong cuộc sống, mọi người có được việc làm ổn định. Người người được hạnh phúc, nhà nhà được yên vui.
Trong tác phẩm “Cõi hồng” Bùi Minh Vũ tạo những nét nhòe của không gian, thời gian nghệ thuật và tính cách nhân vật cứ xen ngang, xuất hiện chập chùng
gợi cảm giác cho người đọc muốn tìm một hình bóng cuối cùng đích thực mà tác giả muốn gửi gắm trong tác phẩm. Bên cạnh đấy chúng ta thấy hàng chục nhân vật mà Bùi Minh Vũ đưa vào trong tác phẩm có hoàn cảnh nghiệt ngã để từ đó tác giả thể hiện tính cách của nhân vật; ý thức của nhân vật vươn lên trong cuộc sống. Điều đặc biệt là người đọc cảm nhận chất thơ trong trang văn “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ. Có lẽ Bùi Minh Vũ là nhà thơ khi chuyển sang viết văn xuôi chất thơ vẫn còn đọng lại và theo sát anh từ đầu đến cuối tác phẩm. Chính điều ấy đã tạo cho người đọc có cái cảm giác nhẹ nhàng khi tiếp nhận “Cõi hồng”.
Tác phẩm “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ đã ra đời, bạn đọc tiếp nhận rộng rãi. Đủ thành phần, đủ lứa tuổi và trình độ của mỗi người cũng khác nhau. Người tiếp nhận mặt này, người tiếp nhận mặt kia. Có người khen mặt này, có người chê mặt kia nhưng đối với tôi, tác phẩm “Cõi hồng” của Bùi Minh Vũ là một tác phẩm đáng trân trọng; chúng ta nên tiếp nhận “Cõi hồng” với niềm cảm thông chia sẻ của một nhà thơ bước đầu thể nghiệm trên tác phẩm văn xuôi, của một thể loại không hề dễ giải và người viết phải dày công tìm tòi khám phá, đầy đủ bút lực, phải có kiến thức tinh thông và vốn sống phong phú.
HÀ QUẢNG

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG – PHẠM NGỌC DŨ VÀ TÔI – Bài viết của LÊ NGHỊ

Posted by admintnqn trên 22/08/2017

CHƠI GIỮA THƯỜNG HẰNG – PHẠM NGỌC DŨ VÀ TÔI
* LÊ NGHỊ
Tôi đến với Ngã Du Tử khá muộn. Đúng thôi, tôi thì bé tí còn anh thì đã qua cái tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” từ lâu. Chính vì thế mà anh đã đạt đến mức độ gần như hoàn-hảo về mặt tri-hành, kiến-văn, và kinh-nghiệm về cuộc sống. Cũng nhờ đó mà khi nhìn nhìn hay nghe thấy điều gì, anh không những không cảm thấy chướng-ngại mà còn hiểu thấu được mọi lẽ. Không phải tự-nhiên mà ta đạt được trình-độ “nhi nhĩ thuận” Muốn đạt được trình-độ này, con người cũng phải có căn-bản giáo-dục, đạo-đức, kiến-văn, và kinh-nghiệm từng-trải về sự đời.
Ngã Du Tử tên thật là Phạm Ngọc Dũ, sinh năm 1956 tại Nghĩa Hành – Quảng Ngãi. Anh bôn ba trong cuộc đời để bây giờ anh định cư tại Sài Gòn đô hội và rong chơi từ ấy đến quê cùng những miền hoa thơm cảo lạ.
Làm nhiều thơ, yêu nhiều chữ để bây giờ giữa cuộc bon chen, anh vừa ra mắt Thi phẩm “Chơi Giữa Thường Hằng”, một tập thơ mang hơi hướng Thiền Thi và 17 bài thơ lẻ khác.
Tập thơ được chia làm hai phần. Phần đầu là Trường thi “Chơi giữa thường hằng” được anh viết bằng thể thơ lục bát mà nói như Luân Hoán là “một hồn vía tinh túy từ một dân tộc lạc quan yêu thích thanh bình” và phần sau là những bài thơ tình được viết bằng sự đa dạng thể loại và hình ảnh. Cũng không quên nói rằng, đan xen với anh là đôi câu cảm nhận của người chị thơ Ninh Giang Thu Cúc và của Đông Nguyên.
Bài trường thi “Chơi Giữa Thường Hằng” được anh tách thành 10 chương, mỗi chương là một sự dẫn dắt từ “Vương vấn”, “Quán chiếu” đến đoạn cuối cùng là “Chuyển hóa” và “Thắp đuốc Chơn tâm”. Nói theo tinh thần Phật gia, thì đó là sự giác ngộ, sự tìm kiếm “bản lai diện mục” của một đời người.
Cuộc đời thi sĩ là một cuộc chạy vòng quanh xuôi ngược kiếm tìm một chứng nghiệm. Sự chứng nghiệm dày dặn của một đời làm người trước dâu bể cuộc đời để khi về với cõi tâm linh, tìm cho mình một chốn an bình trong tâm thể và tâm thức khi mọi đối đãi bằng vòng tay yêu thương và tha thứ.
Nếu Bùi thi sĩ đã từng nói:
“Trăm năm tắm gội dưới trời
Ngày thì tắm nắng tối rồi tắm trăng
Nhớ em, tắm với chị Hằng
Tận cùng tắm với ngọn đèn cô đơn”
thì với Phạm Ngọc Dũ:
“Ngày thơm hương phúc an lành
Hoa thanh lương nở trên nhành ruổi rong
Ta về thắp lửa, đèn chong
Soi vào tục lụy trước vòng bể dâu”.
(Trước Minh kính đài)
Rốt ráo của cuộc đời, cuộc thơ, chỉ còn ngọn đèn tri âm cùng thi sĩ và xa xa trên bầu trời xanh kia, giữa muôn ngàn tinh tú, một vầng thơ lẻ loi đang cùng anh:
“Mở lòng ra, rộng đôi tay
Nhân gian còn biết tỏ bày làm tin
Là đi là đến phận mình
Hành trình còn những thình lình đục trong”
Giữa cuộc “Chơi giữa thường hằng”, anh đã đối mình “trước minh kính đài” để thấy rằng
“Dễ chi hạt ngọc mà mong
Đôi khi đắng chát cũng trong cõi này”
Vâng, đôi khi đắng chát. Và cái thật sự khi đứng trước gương soi mình, tìm lại chính mình anh đã trực ngộ ra rằng:
“Nào thương, nào ghét được gì
Việc đời lắm mộng đôi khi mệt mình”
(Chương 8: Nghi tâm)
Vậy đó, Đời là vô thường, thay đổi theo luật nhân quả,
Vũ trụ thay đổi, đó là vô thường và luật nhân quả là thường hằng. Tất cả mọi triết lý đều có một nền vĩnh cữu và trên đó là một dòng chảy thay đổi liên tục. Đó là thế giới tương đối biến hóa trên cái nền tuyệt đối. Đó là sóng nước thay đổi muôn trùng trên mặt đại dương vĩnh cữu gọi là Không. Đó là vũ trụ sống mỗi ngày trong tình yêu Đạo pháp tràn ngập từng tế bào của vũ trụ.
Chính vì vậy, khi viết “Còn lại dấu ngày” Ngã Du Tử đã an nhiên:
“Tôi ngửa mặt hứng nụ cười rất nhẹ
Lững mùa vui trong đáy mắt luân hồi”
và để rồi khi
“Tôi thơ thẩn soi từng vùng tâm thể
Con đường quen còn lại một dấu ngày”
nhà thơ đã thấy “Phía bên kia trăng nước ngập thuyền đầy” .
Một bài thơ tình ẩn sau những kiếm tìm giữa cuộc rong chơi vật vã với áo cơm giữa nhân sinh đầy hệ lụy khi anh đã tìm thấy an lạc tâm.
Đi dọc cái trầm luân cuộc đời, lang thang trong cõi vô thường với hệ lụy nhân sinh của “sinh lão bệnh tử” và bon chen cùng thời cuộc vì “cơm áo không đùa với khách thơ” đôi khi ai đó trong chúng ta cũng “nhầm lẫn cọng trừ” để thấy rằng cuộc đời không chỉ hoa hồng và chocolate. Những gai góc từ từng ngóc ngách, từ những thăng trầm đã khiến Ngã Du Tử ngộ ra rằng
“Người đả đảo, kẻ hoan hô
Thì ra thế sự cả bồ liêu trai”.
Tuy ray rức, đau đáu vậy, nhưng cái cốt lõi để chàng gửi hồn vào thơ, mặc nhân thế lắm lời, nhân sinh lắm lẽ. Khép phòng văn lại, ủ lòng mình lại, chàng đã đạt đến sự an nhiên, tự “xếp”, tự “xây” cuộc đời mình trong chính “nát bàn thơ” của con tim yêu đời và đau đời và… vui sống:
“Góc đời đọc sách xem tranh
Xếp ngôn ngữ lại xây thành quách thơ”
và để rồi buông thỏng 2 câu
“Xanh như lá thắm cau trầu
Đừng như vôi bạc tình đau đáu lòng”
Cái đau đáu của Ngã Du tử được anh viết bằng thể lục bát chân phương mộc mạc với bài thơ “Ngẫu hứng ngày lên”.
Trong mỗi chúng ta, có ai đã từng hỏi “Cớ gì mà Phạm Ngọc Dũ lại chọn cho mình cái bút danh Ngã Du Tử”. Và có ai đã thử biện mình rằng, trong cuộc yêu thơ, mấy ai đã tịnh tâm sám hối trước một thánh thể là hương sắc khi đêm buông về phía ngã.
Sẽ là sáo rỗng nếu chúng ta chưa nhận thấy đời vị đắng, nếm môi xuống đời, thấy đời ngọt lịm, cho nên chàng đã “ngộ” được lẽ đời, lẽ sống, lẽ tình yêu để đủ sức đề kháng và thản nhiên đắm mình
“Ngày yêu mến đêm ngược nguồn bất tận
Vươn cánh dài theo sóng nước hoàng hôn”.
Vâng, cái ý vị của anh là hương sắc. Cái nên thơ của anh là thánh thể và cái chân tình của anh là
“Rồi từ đó ta thức cùng mộng mị
Vùng say mê rộn rã một tâm hồn”.
(Đời gọi em là hương sắc)
Nếu nói “Chơi giữa thường hằng” là một thiên trường thi đậm thiền vị quả không ngoa khi xuyên suốt tập thơ là những tư tưởng mang triết lý Phật gia, những giải thoát mang tính tự thân.
Thấu triệt cái tư tưởng: “Khi các con sông dòng suối trôi về biển, nó bỏ lại sau lưng tất cả tên gọi và thuộc tính, chỉ còn mang một vị mặn”, anh đã ngược ngạo đời “vác thuyền về phố” và vác tình ta đi dạo khắp nước non.
Phải chăng cái dạo chơi này đã là một sự giải thoát? Chí ít là của chính anh – Ngã Du Tử – như cái mỹ danh anh chọn cho mình
Bằng bút pháp chân chất với phong cách “nhà quê”, lục bát “vác thuyền về phố” sẽ cùng chúng ta “tít mắt cười” và “tìm ra đáp số”:
“Dòng sông nào cũng mang nước về biển mặn
Đời con người bao nhiêu lần giọt đắng
Ừ thì ta vác thuyền về phố
Và vác tình ta đi dạo khắp nước non”.
Dẫu không nằm trong phần đầu của tập thơ, những bài thơ lẻ đã không lẻ. Có lẽ là nó chạy theo một mạch luân hồi mà đời người rồi ai cũng qua.
Sinh ra, lớn lên, yêu, và mang những ngọc ngà đi cùng những bước chân tâm về quỳ gối bên Phật đài để tự soi rọi lại chính mình, anh đã nói:
“Còn chăng chỉ một chữ tình
Thì thôi hãy sống chân tình trước sau
Một đời thấm đẫm bể dâu
Gọi người an trú qua cầu nhân gian”
Ừ, thì thôi. Ừ thì gọi nhau mà an trú trong nhau giữa phù trầm nhân thế.
Vậy đó, Ngã Du Tử đã “chơi giữa thường hằng”!
Tập thơ nhỏ nhắn, xinh xinh nằm lặng lẽ trên kệ sách với lối hành văn mộc mạc bằng những ngôn ngữ đời thường pha lẫn những câu từ của triết lý Phật giáo. Đôi lúc anh đã dùng một vài từ “cổ kính” như “vầng trăng cổ độ”, “chốn giang đầu”, “bể dâu”. Tuy nhiên, nó không lệch lạc hay quá cầu kỳ bởi anh rong chơi bằng một thể thơ lục bát mang đậm cái hồn quê.
Gặp anh vội vã, đọc anh vội vã, tôi chỉ biết nói rằng đây là một tập thơ mà tôi yêu mến. Nó không quá hoành tráng và “nặng ký” cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nó nhẹ nhàng như anh đã “Chuyển hóa” và “vác thuyền về phố”.
Cám ơn anh, cám ơn Ngã Du Tử đã cho tôi “Chơi giữa Thường Hằng”.
U Minh thất, Mạnh Thu năm Đinh Dậu,- 2017

LÊ NGHỊ

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

KHÁT KHAO HƯỚNG TỚI CÁI ĐẸP DUNG DỊ TRONG TẬP THƠ”HỒN QUÊ” CỦA HÀ QUẢNG

Posted by admintnqn trên 13/08/2017

Trang TNQN có nhận được bài của BÙI MINH VŨ viết về tập thơ ” HỒN QUÊ” của Hà Quảng. (Nhà giáo, nhà thơ miền Núi Ấn – Sông Trà). Cảm ơn tác giả và giới thiệu cùng bạn đọc.

KHÁT KHAO HƯỚNG TỚI CÁI ĐẸP DUNG DỊ TRONG TẬP THƠ”HỒN QUÊ” CỦA HÀ QUẢNG

Thơ Hà Quảng là sự khao khát hướng tới cái đẹp dung dị trong đời sống hàng ngày. Mọi sự thay đổi phải làm cho cuộc đời đẹp hơn, nhân văn hơn. Đây là dấu ấn xuyên suốt từ những bài thơ in trong các tập: “Con sóng tình yêu” (2010), “Thao thức” (2013), “Mưa hoang” (2015) và đến hôm nay với tập “Hồn quê”.

Thật cảm động khi tác giả tâm huyết hướng về quê hương, ca ngợi nơi đất ở với những địa danh quen thuộc: Mộ Đức, Minh Long, Lý Sơn…với dòng: sông Thoa, sông Vệ, sông Trà (Quảng Ngãi), sông Đà Rằng (Phú Yên)… ; rồi những đỉnh: núi Bạc, núi Điệp, núi Ấn… Tác giả đã đi nhiều nơi, nên dấu ấn trong thơ khá rõ về: Tuy Hòa, Pleiku, Sài Gòn… Chừng ấy địa danh cứ ám ảnh trong thơ Hà Quảng như những vùng yêu thương không bao giờ mờ nhạt.

Khi những con tàu ra đảo, là mùa xuân nơi Trường Sa lại về: “Mùa xuân nơi Trường Sa thân yêu/Đâu chỉ có sóng gió và mây trời lồng lộng/Mà có cả chiếc bánh chưng dáng hình của đất/Bầu trời xanh chắp cánh giấc mơ xanh.” Anh tự hào các thế hệ hôm nay đều có chung:“Lời thề thiêng liêng cao cả nhất/Quyết không để một tấc đất bị mất/Quyết không để kẻ thù chiếm lấy đảo nhà” (Mùa xuân nơi Trường Sa). Chính điều này đã cho chúng ta thấy rằng: phải yêu những gì chúng ta có và không bao giờ quên nơi ta sinh ra, lớn lên. Không gian nguồn cội day dứt không nguôi, cứ cháy lên như ngọn lửa trong lòng tác giả khi viết về quê hương có sự đổi thay nhiều nhưng “em có về không?” để nhìn những đồng lúa vàng, trải qua những chiều đẹp bên dòng Vệ giang, nghe những tâm tư của cha, của mẹ: “Em có về với đất Quảng quê ta?/Cánh đồng lúa mơn man đang thì con gái/Núi Thiên Ấn muôn người đi trẩy hội/Trời đất giao mùa mẹ mong đợi chờ em.”(Em có về Quảng Ngãi?). Câu hỏi cứ lặp lại ở nhiều bài thơ: “Em có về thăm Mộ Đức yêu thương?”; “Em có về Đức Nhuận quê anh?”; ‘Tháng tư này em có về thăm?/Thăm mẹ thăm cha, thăm những gì em nhớ/Người dân quê ta chân thành cởi mở/Đợi đứa con xa nay có hứa ngày về”…

Trong thơ Hà Quảng, hình ảnh người thầy khả kính được thể hiện: “Thầy giáo già đứng lặng hồi lâu/Nhìn hàng cây sân trường gió mát/Như lắng nghe mùa xuân về ca hát/Mái trường này thầy gắn bó từ lâu” (Thầy giáo già). Và mai này không còn đứng trên bục giảng, thầy sẽ về hưu, vẫn “Mong các em ngày càng thành đạt” (Khúc chậm trước khi về hưu). Càng trân trọng hơn khi ở tuổi đôi mươi, cô giáo đã tình nguyện cõng chữ lên non: “Cô giáo vùng cao lòng nao nao vui sướng/Cõng chữ lên non cho những học trò”(Cõng chữ lên non). Chính vậy, nên tình thầy cô với học trò ngày càng gắn bó, mỗi thế hệ học sinh ra trường đều không quên lớp cũ, trường xưa: “Bao năm cách trở sông sâu/Nay về trường cũ nặng câu ân tình” (Về lại trường xưa). Ghi lưu bút là dấu lặng không thể thiếu trong thế giới tinh thần của tuổi học trò: “Có những phút em thấy lòng êm ả/Lưu bút hiện về cõi lặng nhớ xa xăm” (Em ghi lưu bút).

Trong tình cảm thân thương ấy, tình yêu là dấu son sâu đậm, được tác giả cân nhắc, đong đo, thể hiện với niềm đam mê ngọt ngào và thánh thiện: “Trong cuộc đời có nhiều nỗi ước ao/ Ước ao nhất mong tình mình luôn gìn giữ/… Ngày Sài Gòn nếu anh không có em/Phố xá sẽ buồn và bao điều không nghĩa lý” (Ngày Sài Gòn). Hà Quảng là một thầy giáo nhưng khi làm thơ về tình yêu thì anh như trẻ lại, nhìn lại, chiêm nghiệm những gì đã qua: “Đám cưới nhà bên rộn ràng cười nói/Anh cảm lòng mình trẻ lại trước mùa xuân” (Quảng Ngãi vào xuân). Nhớ về ngày xưa, nhớ mùa thu đi qua, nhớ một hình bóng mơ hồ bàng bạc trong thơ anh: “Thu đã về và thu đi qua/Mùa thu lặng lẽ bước chân dài/Đêm sâu thầm ước trong khóe mắt/Không biết bây giờ ai nhớ ai.” (Mùa thu đi qua). Câu hỏi “ai nhớ ai?” rất khó trả lời nên tâm trạng day dứt này bàng bạc trong thơ, mênh mang buồn, bâng khuâng nhớ: “Ngày không em con đường xưa chốn cũ/Ngẩn ngơ buồn anh rẽ chốn hoang sơ’’. Dù bóng dáng em chỉ là ảo ảnh, nhưng anh vẫn không nguôi lòng hướng đến người yêu: “Ai hiểu được trái tim sao rạo rực/Khi tình yêu bùng cháy phía chân trời.” (Ảo ảnh).

Thời gian tình yêu trong thơ của Hà Quảng lâu dài từ tháng giêng cho đến tháng chạp, từ năm này đến năm sau, không dứt. Không gian tình yêu rộng lớn, mênh mang, không biết em ở đâu để tìm, nhưng anh không trách, dường như có chút đau đáu: “Trong sâu thẳm em có nghe tiếng vọng/Cõi lòng ai con sóng vỗ sông sâu” (Em ở đâu?).

Đối với Hà Quảng “Tình yêu luôn mới mẻ/ thắp sáng cả niềm tin/ Dẫu đá cũng hao mòn/Tình yêu luôn tồn tại/Tình yêu em mãi mãi…”(Giữa đôi bờ hư thực). Anh không bao giờ muốn người tình buồn, dù nàng không duyên nợ: “Nhiều lúc em buồn mong manh lá cỏ/Anh xác xơ lòng như cánh gió chiều rơi”(Anh không muốn em buồn).

Tình yêu trong thơ Hà Quảng là một sự tiếc nuối: “Hoa cải vàng sương bên kia lãng đãng/Em có chồng anh nhớ tháng ba xưa” (Tháng ba vàng nỗi nhớ); là một tình yêu đơn phương: “Lặng lẽ lòng ai thương nhớ ai” (Tình thơ); là khúc bi ca về tình yêu đã mất.

Đặc trưng trong thơ Hà Quảng là gần với đời sống hàng ngày, dễ hiểu, dễ cảm nhận. Nhiều câu thơ hay, ấn tượng. Cách dùng chữ táo bạo: “Tháng hai gầy sương khói mong manh” (Tháng hai mòn nỗi nhớ). Láy nguyên âm đôi làm câu thơ thi vị: “Chiều tháng tư quê em mưa lưa thưa” (Mưa tháng tư). Có câu thơ gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của cư dân bản địa: “Bà con láng giềng dường như cũng đợi/Vẫn nhớ em nên cứ hỏi thăm hoài” (Tháng tư rồi em có về không?). Thần thái thơ Hà Quảng thường ở câu mở đầu và câu kết thúc bài thơ, nhưng ám ảnh hơn khi anh cứ buông thả lời phóng túng lại là cá tính sáng tạo của thi sĩ.

Đọc thơ Hà Quảng, người đọc dễ thấy thơ anh dù viết về đề tài nào vẫn không bi lụy, không tuyệt vọng. Suy cho cùng, thơ như muốn níu con người đứng dậy, đi tới, và anh đã thể hiện hết mình qua tập thơ : “Hồn quê”.

Xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc gần xa!

Buôn Ma Thuột, tháng 6-2017

BÙI MINH VŨ

Posted in 04. Bài viết, Hà Quảng | Leave a Comment »

Hà Quảng Viết TÌNH YÊU CỦA TRẦN THUẬN THẢO ĐỐI VỚI PLEIKU

Posted by thinhanquangngai1 trên 01/10/2016

nghieng-chieu-nguoc-gio-tt

Tình yêu của Trần Thuận Thảo đối với Pleiku

Hà Quảng

Trần Thuận Thảo tên thật là Trần Thị Thuận, sinh ra và lớn lên tại thành phố Pleiku (Gia Lai). Chính thành phố Pleiku đã nuôi dường tâm hồn chị để chị có những vần thơ yêu thương khi viết về thành phố này. Thơ của Trần Thuận Thảo bắt nguồn từ những gì thật gần gũi bình dị nhất. Chị viết nhiều về người thân trong gia đình về người chồng yêu thương của chị và những cảnh vật, con người tại thành phố sương mù này. Trần Thuận Thảo vừa ra mắt bạn đọc tập thơ: “Nghiêng chiều ngược gió” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành vào tháng 8. 2016.
Đọc tập thơ “Nghiêng chiều ngược gió” của Trần Thuận Thảo tôi cảm nhận được vẻ đẹp của thành phố Pleiku đầy thơ mộng. Ngòi bút của chị trữ tình, dịu dàng, ngọt ngào. Chị đã đưa chúng ta đến với thành phố Pleiku yêu thương gắn liền với tấm lòng tha thiết của chị đối với thành phố này.
Thành phố Pleiku trong ánh mắt của Trần Thuận Thảo gắn liền với hình ảnh hoa dã quỳ, với sương mù phủ nhẹ. Hai hình ảnh này xuyên suốt tập thơ khi chị viết về thành phố Pleiku. Và còn đâu đó nữa là mái nhà rông, là dòng Sê San, là Biển Hồ, là núi Rồng… cũng thể hiện nhiều trong tập thơ, khi Trần Thuận Thảo viết về quê hương chị đang sống và làm việc.
Ta thử nghe chị bộc bạch tấm lòng của mình đối với Pleiku:
“Tôi yêu Pleiku, dã quỳ vàng sắc thắm
Mái nhà rông, yêu nhịp múa cồng chiêng
Dòng Sê San năm tháng chảy qua miền
Tôi yêu lắm một thời thơ ngây dại.”
(Tôi yêu Pleiku)
Người con gái chưa chồng khi làm thơ thể hiện tình yêu trong thơ đã khó; người con gái có chồng, có con, gia đình đang sống hạnh phúc khi làm thơ thể hiện “một chút xao lòng” lại còn khó hơn. Đối với Trần Thuận Thảo trong tập thơ này, chị lại viết nhiều về tình yêu, có khi “xao lòng” một chút nhưng đối với Trần Thuận Thảo, chút “xao lòng” ấy cũng chỉ để thể hiện tình yêu của chị đối với thành phố Pleiku. Vì vậy ta bắt gặp trong tập thơ này những câu thơ tình thật hay:
“Anh có về thăm phố núi chiều nay?
Nhặt giùm em sợi sương mềm giăng lối”
(Anh có về)
Và ta lại nghe đằng sau câu hỏi, ướm lời mời mọc đó, chị đã thể hiện lòng mình với Pleiku:
“Dã quỳ ơi! Níu chân anh bước
Dạt dào hương hoa ngan ngát yêu thương”
(Khúc hát tháng 11)
Từ đó chị thể hiện vẻ đẹp của thành phố này:
“Phố núi yêu thương chiều xế bóng đổ dài
Những con đường bằng lăng nở đầy hoa tím
Nói gì đi anh đừng để nắng chiều tắt liệm
Phố đã lên đèn sao còn đứng lặng im?”
(Tìm nắng tháng ba)
Viết về tập thơ “Nghiêng chiều ngược gió” của Trần Thuận Thảo còn bao điều cảm nhận nữa nhưng tôi chỉ đi vào một khía cạnh trong tập thơ, đó là: Tình yêu của Trần Thuận Thảo đối với Pleiku. Mong bạn đọc tiếp nhận tập thơ với tấm lòng chia sẻ mà tác giả gửi gắm lòng mình đối với Pleiku trong tập thơ này.
Bờ Nam sông Vệ, giữa tháng chín 2016
Hà Quảng

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

THẾ GIỚI SÁCH

Posted by thinhanquangngai1 trên 08/07/2016

DSCF0780

ĐOÀN THẠCH BIỀN,

GÓP GOM THƠ CŨ NHỚ TÌNH GIÓ BAY…

(Cảm nhận tập thơ Buổi chiều gió ngút & Những bài thơ cũ

của Đoàn Thạch Biền, NXB Hội Nhà văn ấn hành quí II/2016 )

 TRẦN HOÀNG VY

NVTPHCM- Nhà văn Đoàn Thạch Biền lần đầu tiên cho ra mắt bạn đọc tập thơ “Buổi chiều gió ngút & Những bài thơ cũ” khiến bạn bè văn giới và nhiều bạn đọc ngạc nhiên và cả… tò mò thú vị. Ngạc nhiên bởi lẽ Đoàn Thạch Biền nổi danh là nhà văn “áo trắng” chuyên viết truyện cho lứa tuổi “ô mai, mới lớn”… Anh đã có hơn 11 tập truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài cho lứa tuổi này, vậy cơn cớ gì anh lại nhảy sang lĩnh vực thơ ca?

Lý giải về điều này, nhà thơ Lê Minh Quốc viết trên web của mình: “Nhà văn Đoàn Thạch Biền làm nhiều thể loại thơ. Đủ sức in một tập ra tấm ra miếng. Nhưng đến nay vẫn chưa. Là người em thua anh đúng một con giáp, là người bạn cùng khề khà đối ẩm chừng ba mươi năm nên tôi được đọc khá nhiều thơ anh. Hay nhất vẫn là thơ năm chữ. Loại ngũ ngôn, thoạt đầu tưởng dễ, nhưng tìm chỉ năm chữ đắc địa đứng chung một câu là điều không dễ. Mỗi bài thơ năm chữ của anh đều gọn gàng một tứ thơ. Chỉnh chu. Và Đẹp. Đẹp bởi chi tiết thô ráp của đời sống. Thêm một giọt nữa là thừa. Thiếu một giọt nữa là thiếu. Rót rượu như thế, nhà văn Nguyễn Tuân dùng cụm từ bay bướm “bồng mắt thỏ”, phải là những tay danh tửu hảo hán…”

Tập thơ xinh xắn với tranh bìa của nhà thơ Đỗ Trung Quân qua sự trình bày của Lan Nhi và những phụ bản của hai nhà văn quen biết là Mường Mán và Đinh Tiến Luyện. Tập gồm một bài viết “Thay lời tựa” song có vẻ như một tự truyện, cho biết anh đã đam mê văn chương từ thuở còn học trung học ở Đà Nẵng. Cùng với 47 bài thơ sáng tác lâu nhất là năm 1967 và mới nhất là năm 2000.

Đọc bài thơ ở bìa gấp 2, xem như lời đề từ, Đoàn Thạch Biền viết: “Những bài thơ rượu lạt/ Chưa đủ say lòng mình/ Nấu khoai mì thay gạo/ Mời bạn uống lấy tình” để thấy anh tự thấy mình làm thơ “chưa hay”, chủ yếu vì cái tình muốn chia sẻ với bạn đọc.

Những bài thơ cũ, với nhiều thể loại, dài ngắn khác nhau, tự do, bảy chữ, lục bát, ngũ ngôn, bốn chữ…tùy hứng và có lẽ cũng tùy tâm trạng, nó nằm rải rác đâu đó trong sổ tay, trên những tờbáo đã cũ, nay tập hợp lại, thổi bay lớp bụi thời gian để rồi có cớ nhìn ngắm lại, cùng vui, cùng buồn của thuở thanh niên vụng dại: “Rồi sẽ đến đây cơn gió tình cờ/ Rung đổ thân héo mục/ Tôi thổi to ngọn lửa trái tim còm/ Thốt cười/ Sao tôi chẳng dám nói yêu/ Những người tôi yêu dấu!” (Kẻ hèn nhát, trang 23). Đấy cũng là cái thời buồn của miền Nam trong những năm đầu thập niên 70, con người đôi khi không còn tin chính mình, kể cả sự hạnh phúc: “Mãi mãi anh còn ngây thơ/ Dù tuổi đời chồng chất/ Khi nhìn chiếc lá rơi/ Chỉ tin vào sự chết” và “Mãi mãi anh còn ngây thơ/ Dù tuổi đời chồng chất/ Khi nghe tiếng ai cười/ Chỉ tin vào hạnh phúc…” (Cô bé âu sầu, trang 27). Giai đoạn thơ lúc này buồn, ít mượt mà, mang nhiều sự trở trăn của thế sự: “ Sao chẳng thể nói yêu em một lời/ Dù tim ta biển điên cuồng thúc giục/ Sao chẳng thể nói yêu nhau một đời/ Hay tình ta trái táo xanh đã rục!” (Tình khúc, trang 31).

Những bài thơ cũ cho người tình cũ “Trí nhớ chúng ta ngày một hao mòn/ Khuôn mặt nhau rồi chẳng còn nhớ được” (Giai điệu bass cho Th, trang 32).Thơ cũ còn dành cho bạn bè xưa cũ và cả những không gian cũ, ghi dấu…buồn: “Đến thăm bạn buổi chiều/ Nhà khác xưa nhiều lắm/ Sân trước tráng xi măng/ Giờ trồng đầy khoai sắn/…Lạng quạng ta ra vườn/ Đạp nát luống cải cúc/ Lòng bỗng thấy bàng hoàng/ Như đạp nhầm hạnh phúc” (Thăm Giao ở Sơn Trà, trang 35). Hay như: “ Đã bao lần ngồi quán/ Đâu phải riêng chiều nay/ Vậy mà bạn cụng nhẹ/ Một ly ta đã say/…”Còn rượu không chủ quán?/ Dạ thưa còn hũ đầy/ Nhẩm tính tiền túi hết/ bạn giả đò nói say.” (Ngồi quán với Định), Phải chăng đó là cái say của tình thân mà chưa thể…”thiên bôi thiểu” bởi cái chuyện vặt “tiền túi hết”, mới thấy đồng cảm mà rưng rưng bởi “Không có áo cừu bán/ Đãi bạn uống cho bưa”.

Xuất thân là một “giáo sư” dạy học (ở miền Nam trước 1975 dạy học từ bậc THCS trở lên gọi là giáo sư), lại là một nhà văn đang được các bạn trẻ ưa thích, đùng một cái Đoàn Thạch Biền trở thành… anh nhà nông ngơ ngác trên nông trường Bảo Lộc, rồi là anh công nhân bốc xếp ở Xí nghiệp Dệt 3 thành phố Hồ Chí Minh, thơ anh dường như cũng chỉ để trút bỏ nỗi lòng: “ Áo tơi vợ ta khoác/ Bạn đội nón hiền thê/ Xứ lạnh ngày mưa núi/ Cùng nhau đi hái trà/ Hương trà bay đâu mất/ Chỉ còn mùi xót xa…”(Ở bảo Lộc với Cảnh, trang 44).Và đây nữa: “Nay sáng đến nhà máy/ Trí óc cất ở nhà/ Làm công nhân bốc xếp/ Sức chân tay đem ra/… Đêm về nằm ngủ khỏe/ Mộng lớn, mộng con quên/ Quẳng bút đi khuân vác/ Tuổi thọ chắc tăng thêm.” (Làm công nhân bốc xếp, trang 45).

Cái mộng văn chương, muốn được các em tuổi teen gọi “ông”, và xưng “em” ngọt sớt, với lối viết trong trẻo, có khi tưng tửng, hóm hỉnh có lúc cũng đã hòa vào trong những câu thơ ngang ngang của mộtngười đã lắm phen lao đao lận đận, làm nên những vần thơ dễ thuộc, dễ nhớ và thú vị của Đoàn Thạch Biền, như: “Em vô tư, tôi vô tư / Ta vô tư quá làm hư cuộc tình” (trang 52), “Mưa lem nhem ướt lem nhem/ Tình lem nhem để hom hem một người” (trang 55), hoặc là: “Cám ơn em yêu lòng vòng/ Giúp tôi quanh quẩn đời rong rêu thừa” (trang 59).

Cũng bất chợt gặp đâu đó, những đau đáu nỗi lòng với nơi đã sống, đã yêu và đã đi, để rồi nhớ khắc khoải, khôn nguôi, đó là Đà Nẵng: “ Tôi về không kịp nữa/ Tuổi trẻ bỏ đi rồi/ Phiến đá hiên nhà cũ/ Cũng lạ lẫm chân tôi” (Tháng bảy về Đà Nẵng, trang 62), trên sông Thu Bồn: “ Đêm bạn bè đất Quảng hát hò vang/ Thật hạnh phúc những người có giòng sông để nhớ/ Tôi tâm hồn ngõ phố ngẫm mà thương” (trang 50), xa hơn tí nữa là Phan Rí: “ Năm năm ở Phan Rí/ Ta là kẻ không nhà/ Cám ơn các chú dông/ Giúp ta quên đường xa” (trang 33), rồi nhẩn nha lên với Đà Lạt: “ Đà Lạt lúc nào đó/ Gần như sương quanh nhà/ Đà Lạt lúc nào đó/ Xa như ai và ta” (trang 61), bước chân anh lại có lúc xuống tận miền Tây sông nước: “Nép mình vào góc bắc/ Tránh cơn mưa vỡ òa/ Mưa trắng bờ.Sông rộng/ Như lòng người chia xa” (Mưa trên Bắc Cần Thơ, trang 57).

Người đọc thích thú khi trong tập anh dành ra hai bài thơ, một cho vợ: “Cứ ly bà ly tôi/ Rượu nếp một chai cạn/ Vợ tỉnh bơ nhìn trời/ Còn ta đâm lạng quạng…” (trang 40), và một tặng cho người thầy dạy triết kính mến ngày xưa: “Tình cờ gặp lại thầy/ Ở cửa hàng chất đốt/ Mừng thầy vẫn vui tươi/ Dù đổi đời đột ngột…”, để rồi mơ ước: “Hẹn năm sau trở về/ Mở cửa hàng chất đốt/ Lớn gấp mười tiệm thầy/ Để khỏi mang tiết dốt”. Bởi vìanh quan niệm: “Học trò biết ơn thầy/ Là phải vượt thầy cũ” (trang 38). Bao năm rồi nhỉ, liệu mơ ước ấy có thành?

Nhà văn làm thơ, nhà thơ viết văn xưa nay đâu phải là chuyện lạ? Bình thường thôi mà, chẳng có gì ầm ĩ, song cái tình thì cao quí, đáng trân trọng. Tôi cũng… hên, xui được ngồi nhậu vài lần với nhà văn Đoàn Thạch Biền, cảm cái hào sảng, duyên ngầm của anh mà cảm nhận tập thơ này, được xem nhà văn “rót rượu vào trong thơ” để: “Nhìn trời cao, mây trắng đã bay về”, thấu hiểu “Tình như ma hiện đùa thôi/ Em đừng hốt hoảng nghi tôi cô hồn”, để quí cái tình gửi gió anh tặng riêng cho bằng hữu, mãi mãi còn “Nồng như rượu nếp than”, trong một ngày gió ngút, lạnh căm…

Gò Dầu hạ, cuối tháng 6.2016
( Nguồn: http://www.nhavantphcm.com.vn Ngày 6.7.2016)

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

TÂM TÌNH MUÔN ĐIỆU Bài viết của Hà Quảng

Posted by thinhanquangngai1 trên 06/02/2016

TÂM TÌNH MUÔN ĐIỆU

Tôi không biết mở đầu như thế nào khi viết về tập thơ “Tiếng lòng” (Tập I) của Câu lạc bộ thơ Hội Cựu Giáo chức Mộ Đức. Những bài thơ trong tập thơ chảy theo những mạch dòng cảm xúc khác nhau nhưng tập trung lại tạo thành nguồn tâm tình muôn điệu của tập thơ. Đó là tình yêu quê hương đất nước con người Việt Nam nhất là đối với con người trên quê hương Mộ Đức thân yêu này; tình yêu biển đảo, tình yêu nghề nghiệp và nỗi nhớ bâng quơ có chút thầm kín riêng tư… cũng được các tác giả thể hiện trong tập thơ. Tất cả đều tạo nên khúc nhạc trầm bổng trong “Tiếng lòng” (Tập I) của các tác giả Câu lạc bộ.
Trong tập thơ các tác giả có cách thể hiện riêng trong việc trình bày câu thơ dài ngắn khác nhau nhưng tất cả đều viết theo thể thơ truyền thống, thơ tự do. Nói về thơ thì từ xưa đến nay có nhiều người định nghĩa về thơ, bàn về thơ nhưng chưa có ý kiến nào thấu đáo. Trong tập thơ này, anh Lưu Vĩnh Huỳnh đã có suy nghĩ trăn trở về thơ. Theo anh:
Khi lòng ta thầm lặng một nỗi đau
ta víu một nhành thơ xoa dịu
(Thơ – Lưu Vĩnh Huỳnh)
Như vậy theo anh, thơ có sức diệu kỳ, thơ có thể làm cho chúng ta bớt đi bao nỗi đau thầm lặng trong cuộc đời đôi khi ta mắc phải. Thơ cũng là nơi mỗi người trong chúng ta gửi gắm những tâm tình sâu kín nhất của tâm hồn, nơi giải tỏa những bức xúc riêng tư…
Tình yêu quê hương đất nước vẫn là nguồn cảm xúc dạt dào được các tác giả thể hiện, mỗi tác giả thể hiện tuy có khác nhau về câu chữ nhưng tất cả đều nói lên tấm lòng của mình đối với đất nước, đối với quê hương xứ sở. Anh Vệ Giang Nam đã bày tỏ lòng cảm xúc của mình trước cánh đẹp quê hương:
Ai có về thăm chốn quê ta
Nơi có cánh cò về đồng xanh bát ngát
Nơi có ao hồ trong veo ta tắm mát
Có cánh buồm có bãi cát thênh thang.
(Duyên quê – Vệ Giang Nam)
Hay anh Nguyễn Duy Phương nói lên nguồn cảm xúc của mình khi anh đến Huế nhìn dòng sông Hương anh lại nhớ đến dòng sông Trà:
Mai anh về đọc bài thơ xứ Huế
Đêm sông Hương mà cứ ngỡ sông Trà.
(Khoảnh khắc – Nguyễn Duy Phương)
Tình yêu biển đảo cũng là một đề tài tập trung vào trong tập thơ “Tiếng lòng” (Tập I). Anh Nguyễn Ngọc Sơn thể hiện nguồn cảm hứng của mình trước tình hình thực tế của biển Đông:
Em có nghe? Biết bao nhiêu sự thật
Biển đảo quê mình giờ sóng dữ triền miên.
(Em có nghe – Nguyễn Ngọc Sơn)
Biển là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn cho các nhà thơ, nhà văn, cho những người cầm bút, cho những người làm nghệ thuật…Nhưng nay biển đảo ta lại “sóng dữ triền miên”. “Sóng dữ triền miên” là cách nói của anh Nguyễn Ngọc Sơn về thực tế biển Đông của chúng ta hiện nay; về thực tế Hoàng Sa, Trường Sa của chúng ta hiện nay…
Lý Sơn hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc, nơi có đội Hùng binh ngày xưa theo lệnh vua ra để cắm mốc chủ quyền biển đảo và khai thác sản vật cũng trở thành nguồn cảm xúc của nhiều tác giả trong tập thơ này, chị Nguyễn Thị Hồng Tư đã viết:
Lý Sơn mang dáng hình phố đảo
Sừng sững hiên ngang giữ mốc chủ quyền
(Lý Sơn phố đảo – Nguyễn Thị Hồng Tư)

Trong tập thơ, hầu hết là các bài thơ của các anh, các chị đã từng gắn bó với nghề dạy học nay về hưu; trở về với cuộc sống đời thường tìm đến thơ và thơ bộc lộ nguồn cảm xúc của mình đối với trường với lớp. Chị Võ Thị Lệ Phương bộc bạch:
Giáo án kia giờ đã khép lại rồi
Phấn trắng bảng đen, em giã từ tất cả
Cánh hoa cũ ép vào miền ký ức
Tiếng trống tựu trường xa lắc trong em.
(Tình yêu cô giáo – Võ Thị Lệ Phương)
Còn chị Duyên Trân lại bộc lộ dòng suy nghĩ của mình về một ngôi trường mà mình từng gắn bó với bao nỗi nhớ:
Trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi
Ngôi trường thương yêu
Ta nhớ bao điều…
( Nỗi nhớ – Duyên Trân)
Làm nghề dạy học có cái thú vị riêng. Trong cuộc sống hiện nay nền kinh tế thị trường đã len lõi vào khắp chốn có khi len lõi vào tâm hồn trong mỗi chúng ta nhưng tình thầy trò dù như thế nào đi nữa cũng không chịu ảnh hưởng nhiều. Làm thầy giáo cái niềm vinh dự, cái niềm sung sướng khi nhìn đàn học trò của mình ngày càng trưởng thành trong cuộc sống. Chính vì vậy Hà Quảng có viết:
cuộc sống đôi khi nhiều điều ngang trái
nhưng tôi luôn nhận được niềm vui.
(Tiếng lòng – Hà Quảng)
Niềm vui của Hà Quảng cũng chính là niềm vui của những người thầy, người cô đã từng yêu thương, tận tụy với học trò của mình trong những tháng năm còn đứng trên bục giảng hay lúc đã nghỉ hưu.

Tình yêu lứa đôi trong nỗi nhớ bâng quơ cũng được thể hiện nhiều trong tập thơ, anh Lê Thanh Phách bộc lộ:
Là tôi thương nhớ một người
Đêm phơi ước mộng lên mười ngón thưa.
(Riêng tình – Lê Thanh Phách)
“Đêm phơi ước mộng” là cách nói riêng của anh Lê Thanh Phách về một nỗi nhớ thật mông lung với bao trăn trở nhưng rồi cứ để trong lòng, không muốn nói ra, không muốn ai biết mà bao đêm mình đã trăn trở. Thật thú vị và thật độc đáo khi nỗi nhớ ấy vẫn còn đọng lại trong lứa tuổi của những người như chúng ta đây. Và chính những điều đấy đã tạo nên những câu thơ độc đáo khi viết về tình yêu, viết về cái muôn thuở của thi ca.
Viết về tập thơ “Tiếng lòng” (Tập I) còn bao điều tôi muốn đề cập đến nữa. Nhưng thôi! Cứ để tác phẩm tự nói lên tất cả những điều mà anh chị em trong Câu lạc bộ thơ Hội Cựu Giáo chức Mộ Đức thể hiện lòng mình. Đó là tâm tình muôn điệu của người cầm bút tỏa ra từ tập thơ. Và một điều tôi mong muốn bạn đọc, cảm nhận tập thơ với tấm lòng chia sẻ, đồng cảm trong niềm hân hoan để đón nhận những tập thơ “Tiếng lòng” tiếp theo của Câu lạc bộ thơ có chất lượng hơn.
Bờ Nam sông Vệ, những ngày đầu tháng Tiếng lòng12. 2015
Hà Quảng

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

VỀ MỘT BÀI THƠ HÒA ĐIỆU HỒN THƠ BÍCH KHÊ – bài viết của Trần Thoại nguyên

Posted by thinhanquangngai1 trên 29/01/2016

BÀI THƠ HÒA ĐIỆU HỒN THƠ BÍCH KHÊ

Cách nay đúng 10 năm,cũng những ngày trung tuần tháng Chạp như thế nầy,Nhà thơ HUYỀN HUYỄN THACH Nguyễn Xuân Phước từ Quảng Ngãi vào Sài Gòn,giữa một buổi trưa gọi mời tôi nhậu mà như réo giục “Mời Thi sĩ lên ngay,các bạn đang chờ tại nhà hàng X đối diện chợ PVH,Tân Bình!”
-OK! Mình sẽ lên giờ!
Tôi với Xuân Phước dù xa cách nhưng rất thân thiết nhau,tôi về Quảng Ngãi là gọi bạn sáng café,tối vài ve ở tiệm cơm Việt Nam và bạn vào SG là gọi tôi liền.
Tôi đến bàn rượu đã có đông bạn bè văn nghệ với Nguyễn Tấn Đức,Huyền Huyễn Thạch,Đoàn Vị Thượng,Lê Đào Nguyên,Khả,Huệ…
Và bàn tiệc đang CHỜ SỰ XÁC MINH CỦA TÔI ( để chung độ chầu nhậu nầy! Hahaha) về những câu thơ có phải của Bích Khê không? Mà đa phần anh em trong bàn rượu cho là của Thi sĩ Bích Khê! Nghĩ rằng, Xuân Phước vừa mới dự HỘI THẢO VỀ BÍCH KHÊ,KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY MẤT BÍCH KHÊ ngoài Quảng Ngãi,mới vào,nên đã thuộc!
Những câu thơ ấy như sau:

Một mai đời chợt vỡ hương tan
Bay tuyết vàng thu mộng úa tàn
Một bóng tài hoa sầu cuối mộ
Hồn thơ còn động cõi thiên man.

Một mai tôi chết bên đồi vắng
Nằm lạnh hư không mồ tịch liêu
Hồn vẫn nhớ ai chùng mây trắng
U ám trần gian những buổi chiều!

Các bạn có ngờ đâu tôi và HUYỀN HUYỄN THẠCH Nguyễn Xuân Phước biết nhau có cùng làm thơ từ thuở còn là học trò trung học ở Quảng Ngãi.Tôi lên ĐH trước mấy năm và tiếp tục làm thơ với bút danh TRẦN THOẠI NGUYÊN xuất hiện trên vài tờ báo có uy tín ở thủ đô Sài Gòn.
Thuở còn xuân xanh mười chín đôi mươi tôi lang thang phiêu bạt với một tâm hồn tràn đầy mộng mơ,sống chập chờn giữa trang đời hư ảo và trang kinh Phật thơm hương Thiền, nhưng bị ám ảnh mãnh liệt về cái chết yểu giữa mùa xanh như những bậc tài hoa yểu mệnh: NGUYỄN NHƯỢC PHÁP,BÍCH KHÊ,HÀN MẶC TỬ,ĐẶNG THẾ PHONG,VƯƠNG BỘT,JOHN KEATS,ATHUR RIMBAUD…nên tôi đã làm ra những vần thơ ấy mà HUYỀN HUYỄN THẠCH đã thuộc từ ngày xa xưa trước 1975!

Cả bài thơ hoàn chỉnh có 3 khổ,ngày đó tôi viết trên giấy bao thuốc lá Bastos xanh và đã bỏ quên lại trên căn gác của Nhà thơ Nguyễn Đạt sau một chiều cùng lang thang café Sài Gòn và một đêm tá túc trên căn gác của nhà thơ! Nguyễn Đạt lúc bấy giờ là thư ký tòa soạn tạp chí CHÍNH VĂN (của Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn) nên đã cho in đăng trên một số của mùa xuân năm 1972 (?)

Sau 1975, nhiều tạp chí bị tịch thu và đốt sạch,tôi xem như rất nhiều bài thơ của tôi đã thất lạc,chìm vào quên lãng! Nhưng người bạn thơ trẻ HUYỀN HUYỄN THẠCH đã thuộc lòng từ khi bài thơ đăng trên tạp chí CHÍNH VĂN thời xưa ấy và sau nầy đã chuyển email cho tôi!

Bài thơ đầy đủ như sau:

GIỮA MÙA HUYỄN TƯỢNG

Một mai đời chợt vỡ hương tan
Bay tuyết vàng thu mộng úa tàn
Một bóng tài hoa sầu cuối mộ
Hồn thơ còn động cõi thiên man.

Tôi sống điêu linh từ kiếp trước
Về đây còn ánh mắt khổ đau.
Dương gian đày đọa người thi sĩ
Ôi! Khói trầm hương có nhiệm màu!

Một mai tôi chết bên đồi vắng
Nằm lạnh hư không mồ tịch liêu
Hồn vẫn nhớ ai chùng mây trắng
U ám trần gian những buổi chiều!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Nhân kỷ niệm 70 năm ngày mất của Thi Sĩ tài hoa yểu mệnh BÍCH KHÊ,tôi nhắc lại chút kỷ niệm vui này như để tỏ lòng ngưỡng mộ TINH HUYẾT TINH HOA THẦN THƠ BÍCH KHÊ,cũng như bày tỏ lòng thương tiếc người bạn thơ tri âm HUYỀN HUYỄN THẠCH Nguyễn Xuân Phước, mà ngày 24 tháng Chạp nầy là đến ngày tuần giáp năm!

Nhớ,năm ngoái cũng những ngày cuối năm như thế nầy,tôi đến thăm bạn nằm xanh xao giai đoạn cuối và tôi viết cho bạn bài thơ CUỐI NĂM GHÉ THĂM HUYỀN HUYỄN THẠCH,trong đoạn kết cũng có nhắc đến Thi Sĩ BÍCH KHÊ mà chúng ta cùng yêu thích ngưỡng mộ:

Tôi gọi vang vang Huyền Huyễn Thạch
Thiên Bút ngừng tay đọc mây thơ.
Thiên Ấn ngân chuông thần tử mách
Bến mộng Bích Khê rót rượu chờ!

426px-Bích_khê

 

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

ĐÔI ĐIỀU TẢN MẠN VỀ THƠ Của Đặng Toản

Posted by thinhanquangngai1 trên 22/08/2015

ĐÔI ĐIỀU TẢN MẠN VỀ “THƠ” VÀ “VĂN VẦN”

Thơ trước hết là văn vần! Nếu như tất cả các bài thơ đều là văn vần thì chưa chắc những áng văn vần nào cũng là thơ (?).
Cho nên khi nói đến một tập thơ, một bài thơ , người ta hay chủ quan (thực sự ra đa số là văn vần, gọi là “thơ” cho xôm, vậy thôi) và tập “thơ” này nó cũng tất nhiên không vượt qua nổi lệ thường đó!
Người viết có một nhu cầu rất chủ quan, chủ yếu là bày tỏ bộc bạch tâm sự của mình, thể hiện theo một cách riêng, tất nhiên bất cứ cái nhìn nào cũng mang ít nhiều phiến diện.
Tuy nhiên một đời làm “thơ” hay một “tập thơ” mà lưu lại cho người đọc một vài bài, một vài câu gọi là: “thơ hay” (đích thực là thơ!) tức là đã vượt qua ngưỡng cửa văn vần, sống trong lòng người đọc thời gian dài đó; nếu không là vinh dự lớn thì ít ra cũng là một niềm an ủi sâu xa.
Thành thử thơ là một bộ môn nghệ thuật quý trọng về “phẩm” hơn là về “lượng” (lẩn thẩn thật có bộ môn nghệ thật nào mà không quý trọng “phẩm” hơn “lượng” đâu?).
Thơ lấy chất liệu từ đời sống, phương tiện là ngôn ngữ, để làm nên một tác phẩm nghệ thuật bằng chất men là tâm hồn của người viết và cuối cùng là tâm hồn người đọc.
Dường như đa số nếu không muốn nói là hầu hết hay tất cả những người làm thơ “đều” trọng những tâm hồn tri kỷ. Mà tri kỷ thì chẳng có nhiều, lắm khi “một” đã là quá nhiều rồi vậy (!).
Nói như thế hóa ra người ta làm thơ trước hết là giải tỏa ẩn ức nội tâm và đi tìm một (hay những) tâm hồn đồng điệu. Những tâm hồn nhìn cuộc sống với một độ rung cảm như nhau, mặc dầu có thể xuất xứ từ nhiều phương trời hoàn toàn xa lạ.
Nhạc của thơ thì bí hiểm và khó cảm hơn nhạc của một ca khúc hay nhạc của bản hòa tấu (giao hưởng chẳng hạn) không lời.
Một bài thơ sống động, sống lâu có nhiều nhạc tính, sự rung cảm của nhạc trong thơ rất mịn màng và ngân vọng lâu dài trong tâm thức của con người.
Trong thơ luôn luôn có nhạc nhưng trong nhạc chưa hẳn lúc nào cũng có thơ. Đối với họa cũng vậy.
Bởi vậy một bài thơ hay (đúng mức thơ) thường thường rất kỵ phổ nhạc. Phổ nhạc một bài thơ tuyệt hay, thông thường là hạ phẩm giá của nó xuống. Nói như thế không phải để chê nhạc. Nhạc cũng là một bộ môn nghệ thuật tuyệt vời như thơ và Họa cũng vậy.Có điều Nhạc là Nhạc và Thơ là Thơ (chỉ có thế thôi).
Thơ, Nhạc, Họa có thể hòa điệu trong một bản đại giao hưởng của đời sống, trong rất nhiều hoàn cảnh và cung bậc khác nhau, nhưng khi trả về, mỗi thứ lại có một vị trí riêng.
Biết nói sao hơn về những điều dường như mâu thuẩn lạ lùng như vậy(?).
Có hai hạng người làm thơ:
1/ Trí thức (học nhiều) làm thơ bằng NGỮ (chữ viết , và tôn trọng rất nghiêm khắc cấu trúc văn phạm).
2/ Ít học (không trí thức) làm thơ bằng NGÔN (tiếng nói) ít để ý về cấu trúc ngôn ngữ và văn phạm).
Kẻ viết bài này thuộc vào hạng người thứ hai đã nêu. nếu như thỉnh thoảng có viết một vài câu hay bài có mang tính cách “ngữ” nhiều một chút đó là do vô tình, ảnh hưởng văn hóa xã hội mà mình đang sống.
Thơ vô tội.
Nhưng kẻ “học đòi” làm thơ lại vô số tội! Hay ít ra chính hắn lại tự rước tội vào người. Bởi vậy “Thơ” cũng chính là “Nghiệp”.Cái “Nghiệp” nó bắt mình phải viết ra những suy nghĩ bất chợt xuất hiện trong đầu. Tự nhiên khi không, không ai bắt buộc làm thơ (như phải làm lụng để trả nợ áo cơm v.v…). Vậy mà cũng lao đầu vào để nhận tiếng khen (ít) chê (nhiều) và lắm điều thị phi rắc rối.
Không biết người khác ra sao chứ kẻ viết những dòng này luôn tự nhận là mình rất nhiều nông nỗi. và có một số bài thơ viết khi xúc cảm đến, về sau đọc lại cảm thấy mắc cỡ. tuy nhiên cũng “gồng mình” lưu lại gọi là để kỷ niệm một thời còn thơ dại (!).
Có một thể thơ khá phổ biến trong kho tàng văn hóa dân tộc Việt đó là Lục Bát.
Thơ Lục bát tưởng dễ làm, hóa ra lại khó. Thực sự lục bát là một cái bẫy “dễ thương” và ngụy trang khéo léo vô cùng. Bởi vì đa phần những câu, bài thơ lục bát hay rơi vào văn vần (hoặc vè) nhiều. Có một người bạn già làm thơ đã lâu năm, sống chết với thơ có nói hài một câu: “Có những kẻ làm “thơ” ra “vè” và làm “vè” lại ra “thơ” ”
“tréo cẳng ngỗng ” như vậy.
Bản thân người viết những dòng này cũng suy nghĩ rất nhiều. Một vài suy nghĩ gọi là mở đầu cho một “công trình nhỏ” của một đoạn đời.
Thơ cũng là bút ký, ghi lại một vài (ít nhiều) kỷ niệm của những chặng đường mà người viết đã đi qua và nhũng suy niệm về chặng đường đó. Còn mong ghi lại trong lòng người đọc được điều gì? May ra là một niềm thông cảm.

ĐẶNG TOẢN

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

HÀ QUẢNG VỚI TẬP THƠ ” MƯA HOANG ” – NXB Văn học. 2015

Posted by thinhanquangngai1 trên 11/05/2015

bia tho Mua hoang

THƠ, CÓ CỚ VÀ VÔ CỚ

Sinh ra và lớn lên ở bờ Bắc sông Vệ (Nghĩa Hiệp, Tư Nghĩa). Dạy học và cư trú ở bờ Nam sông Vệ (Đức Nhuận, Mộ Đức). Thơ Hà Quảng bắt nguồn từ đôi bờ sông thao thiết gió ấy. Có lẽ do sống giữa đôi bờ, nên con sông Vệ được Hà Quảng khám phá ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
Sinh ra, lớn lên ở đó; dạy học, làm thơ ở đó nên Hà Quảng có điều kiện để quan sát và cảm nhận về kỷ niệm, về hiện thực đôi bờ sông Vệ. Lỡ khi kỷ niệm cạn nguồn, anh lại được tiếp sức bởi lớp lớp học trò phổ thông trung học vô tư, hồn nhiên và mơ mộng. Tất cả đó tác động trực tiếp vào tâm hồn người thầy để bật dậy tiếng thơ trước muôn màu hiện thực. Nếu ai đó thử làm thống kê và nhận ra số lượng bài thơ viết về sông Vệ qua ba tập thơ của anh: “Con sóng tình yêu” (2010), “Thao thức” (2013) và “Mưa hoang” (2015) chiếm một tỷ lệ rất cao cũng đừng nên lấy đó làm ngạc nhiên. Thơ ca truyền thống thường “Tức cảnh sinh tình” mà!
Cũng chính từ xuất phát điểm này, mà về sau khi đi đến vùng quê mới nào, anh cũng có thơ. Nghĩa là lại cũng “Tức cảnh sinh tình” như thế. Viết lời Bạt cho tập “Thao thức” của anh, tôi đã giật tít bài là “Hà Quảng – Thao thức những miền quê”. Chính vì lẽ đó, tôi nhận ra, thơ Hà Quảng nghiêng về “Thơ có cớ”, còn “Thơ vô cớ” xuất phát từ quằn quại nội tâm chính mình, không dựa vào “cái cớ” nào cả thì còn rất ít. Cũng chính vì lẽ đó mà thơ Hà Quảng ít có được những bứt phá nội tâm dữ dội. Ít có những tiếng “nổ ngầm” phát ra từ chính con tim nung nấu của riêng mình. 48 bài thơ trong tập “Mưa hoang” này cũng thế! Hầu hết đều có “cái cớ” của nó. Ví như: “Chiều sông quê”, “Dòng sông quê mẹ”, “Ngày mai em về sông Vệ”, “Chiều mưa Đồng Cát”, “Mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc”,“Quy Nhơn ngày về”, “Một thoáng La Gi”, “Nắng phương Nam”… Ở quê thì “có cớ” của tình quê:
Em có biết nơi thôn nghèo bên dòng sông Vệ
Tuổi thơ anh lớn lên theo lớp học trường làng
(Chiều sông quê).
Đi xa thì “có cớ” của những tình xa:
Mười vòng hoa trên mười ngôi mộ
Mười bát nhang nghi ngút hương trầm
(Mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc)…
Cả những bài thơ nếu lướt qua đầu đề tưởng là “vô cớ”, khi đọc kỹ ta vẫn thấy “có cái cớ” của nó:
Anh gặp em một ngày nắng đẹp
trời bình yên
gió sông Trà lặng lẽ
(Thời gian đừng qua mau)…
“Thơ có cớ” của Hà Quảng dung dị, gần gũi với thi pháp truyền thống, hợp với nghề của anh và được học trò anh đón nhận. Đó là những câu thơ không làm dáng nhưng có dụng công. Phần ý thức của người làm thơ mạnh hơn phần vô thức. Cũng là nhà giáo làm thơ nên tôi rất hiểu cái tâm người thầy trong từng bài thơ Quảng viết. Nhưng hình như, cái người thầy dạy văn Đoàn Văn Khánh (tên thật của anh) có phần “lãnh đạo” người thơ Hà Quảng bằng những “chỉ lệnh” hơi quá khắt khe nên người đọc cứ có cảm giác tiêng tiếc về một sự bứt phá cùng với chút lãng đãng, mơ màng pha đôi chút liêu trai để mặc sức cho con người mơ mộng.
Nói điều này, cũng để xin báo hiệu với anh em rằng, so với hai tập thơ đầu, tập thơ này ta đã thấy hé lộ một Hà Quảng bắt đầu hành trình vào “Thơ vô cớ”, bắt đầu có những bộc vỡ tự nội tâm, tự đào sâu vào chính mình để mộng mơ hơn một chút, phá cách hơn chút nữa, đưa những bài “thơ- rõ-ràng- ý” sang những bài “thơ-cô-đặc-tứ”. Ngay cái tên “Mưa hoang” của tập thơ này đã nói lên điều đó.
Và trong những bài “thơ vô cớ” ấy, ta bắt gặp những câu thơ đẹp và lạ hơn, bắt gặp một Hà Quảng mới:
– chiều về chậm chậm
mấy chú ve sầu giữa tháng tư đi đâu
(Nỗi nhớ)
– Mái tóc của ai thời đi học
Về trong giấc mơ
(Em có phải là cô gái ấy?)
– Em ao ước trở thành loài hoa dại
nên thơ anh cũng hóa dại khờ
(Tình anh)
– Ngọn lửa tình vẫn ầm ĩ trong anh
sao anh khao khát chút nắng vàng bên khe suối
(Ngọn lửa tình)
– Chiều hoang sơ mộng mị
Em đi tìm nghĩa chữ yêu?
(Mưa hoang)…
Vâng! Chúng ta tiếp tục mong Hà Quảng có nhiều hơn những phút “hóa dại khờ” và “hoang đàng”; nhiều hơn nữa những “ngọn tình ầm ĩ cháy” cùng những “hoang sơ mộng mị” ngay chính trong lòng mình để chuyển thi pháp từ “có cớ” sang “vô cớ” ngày một thơ hơn.
Xin vui mừng giới thiệu tập thơ thứ ba của Hà Quảng – “Mưa hoang” cùng bạn đọc xa gần!
Xóm Chòi Dầu, Nguyên tiêu Ất Mùi, 2015.
Nhà thơ, Tiến sĩ MAI BÁ ẤN

CHÙM THƠ TRONG TẬP “MƯA HOANG”

CHIỀU SÔNG QUÊ

Anh thả hồn cùng dòng sông quê
Nước chậm trôi năm tháng vọng về
Bãi bắp ngày xưa cha xẻ hàng gieo hạt
Lá lên xanh nhịp võng trưa hè.

Lũy tre làng hát khúc tình ca
Tình yêu em và con sông quê mẹ.
Em có biết nơi thôn nghèo bên dòng sông Vệ
Tuổi thơ anh lớn lên theo lớp học trường làng.

Em có lần về thăm Đồng Viên
Nơi có bậc sinh thành
Để bây giờ có anh có vần thơ…
Yêu thương biết mấy
Sông Vệ trôi chiều lắng đọng suy tư.

Chiều sông quê dào dạt ước mơ
Tiếng sáo diều ngân nga triền sông trầm lắng
Con đường làng vương vương màu nắng
Hoa ngọc lan nhà ai…theo gió đi về.

TÌNH EM

Nơi em sinh ra và tuổi thơ em ở đấy
Sông Vệ chầm chậm trôi
Anh đón cơn gió về đèo Eo Gió
Anh đón tình em từ cơn mưa.

Tình em tựa khúc dân ca
Mượt mà dòng suối chảy
Hoa dại bên đường ngẩn ngơ
Hành Nhân chiều tháng bảy.

Anh cảm nhận sự bình yên
Anh cảm nhận bao điều hạnh phúc
Những câu thơ tỏa ra từ lồng ngực
Những câu thơ xanh trong giấc mơ…

Tình em như sa mạc bao la
Như mảnh trăng khuya bầu trời xa lắc
Như mảnh trăng khuya mơ màng vằng vặc
Trăn trở hoài có lắng đọng suy tư?

NGÀY MAI EM VỀ SÔNG VỆ

Ngày mai em về sông Vệ
Mây buông tím trời nhung nhớ
Tình em nỗi niềm trăn trở
Có người mong đợi chờ em.

Ngày xưa vụng về câu nói
Ngày xưa chỉ có trong mơ
Bây giờ sương giăng lạc lối
Bây giờ chỉ biết ngẩn ngơ.

Trách cho tơ duyên trắc trở
Tơ duyên sao quá phũ phàng
Sông Vệ cứ trôi chầm chậm
Lặng thầm ôm mộng tương tư.

Ngày mai em về sông Vệ
Nhớ thương con sóng vỗ bờ
Nhớ thương ngày xưa còn đó
Trăng mờ lạc lõng bơ vơ.

Chuyến đò giờ đã sang ngang
Chuyến đò bên kia sóng nước
Nỗi niềm làm sao nói được
Thôi đành… khoảng lặng trong anh.

CHIỀU MƯA ĐỒNG CÁT

Mưa về trên Đồng Cát
Thị trấn nhỏ bình yên
Để lòng ai nhung nhớ
Một khoảng trời vô biên…

Chiều Đồng Cát loang tím
Gió sông Thoa tràn về
Em xa mờ heo hút
Giọt mưa dài lê thê!

Ly cà phê chờ đợi
Tí tách từng giọt rơi
Em cõi miền mờ ảo
Sao sóng lòng đầy vơi?

Cơn mưa chiều lãng đãng
Dòng sông Thoa thì thầm
Bây giờ em xa cách
Để lòng ai nhớ mong.

Mưa về trên Đồng Cát
Con sóng vỗ đôi bờ
Ai âm thầm lặng lẽ
Cơn gió nào bơ vơ?

THỜI GIAN ĐỪNG QUA MAU.

Anh gặp em một ngày nắng đẹp
trời bình yên
gió sông Trà lặng lẽ
chiếc lá vàng rơi nhẹ
nơi góc phố ta ngồi.

anh trầm tư theo dòng mơ tưởng
em lặng thầm theo nỗi nhớ mùa thu
con sông Trà
mùa nước đầy
mùa nước cạn
bao mùa thu ra đi
mùa thu lại về.

trời Quảng Ngãi giăng giăng mây tím
em dịu hiền man mác dáng thu
trong khoảng lặng thinh
chiếc đồng hồ
tích tắc
tích tắc…
từng tiếng buông rơi.

mùa thu về thật hay
nơi góc phố chúng mình tâm sự
cảnh vật đang suy tư
cảnh vật đang ao ước
thời gian đừng qua mau…

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

NHẠC TRỊNH – ĐÔI DÒNG TƯỞNG NIỆM – Bài viết của Trần Thị Cổ Tích

Posted by thinhanquangngai1 trên 31/03/2015

NHẠC TRỊNH- ĐÔI DÒNG TƯỞNG NIỆM
1.Chiều mưa năm ấy, trên căn gác nhỏ, hai chị em gái nằm gác chân lên nhau, đầu gối tay, nhìn ra khung cửa sổ.Ngoài ấy là vòm cây trứng cá lá xanh rờn điểm những hoa trắng li ti đang nhỏ từng giọt mưa xuống con đường Quang Trung dài hun hút, thưa vắng bóng người. Ngắm mưa, nghe mưa và nghe nhạc là thú vui của hai chị em vào những chiều đông rảnh rỗi .Bài ca trong băng cassette chị mới mua về làm em gái giật mình…” Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động. Làm sao em biết bia đá không đau?…” Lần đầu tiên cô bé nghe một ca khúc lạ thường như thế. Ca từ và hơi nhạc làm xao động tâm hồn cô bé tuổi mười lăm, lứa tuổi đang nao nức rộng mở cõi lòng đón nhận những điều mới mẻ, lứa tuổi bắt đầu biết lắng nghe từng sợi tơ rung nhẹ trong trái tim mình.Cô nhìn mưa, lạ lẫm như chợt thấy lần đầu.Mưa như một lời hẹn ước, một chờ đợi mơ hồ, một nỗi lòng khắc khoải .” Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng.Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…” Bài ca khép lại ở đó , đồng thời mở ra một chân trời mới trong từng cảm xúc, từng cảm nhận của cô gái. Nhạc Trịnh Công Sơn đã lưu lại trong lòng cô. Và không phải chỉ mỗi mình cô…
2. Quảng Ngãi dần dần mọc lên những quán cà phê mang tên Diễm Xưa rồi Hạ Trắng , Biển Nhớ, Mưa Hồng…Chưa biết cà phê ở đó ngon dở thế nào, chỉ cần nhìn tên quán- tên những ca khúc TCS- là người ta sẵn sàng bước vào với niềm háo hức như đến một nơi hò hẹn thân quen.Ở đó ranh giới tuổi tác không còn. Bên ly cà phê, bên tách trà, họ lắng nghe giọng ca Khánh Ly truyền đi cái chất nhạc mang- mang- nỗi- buồn- thánh- thiện và thấy gần gũi nhau vô cùng.Những người già như thấm thía hơn nỗi đời. Những cặp tình nhân dường như đang học cách yêu thương từ ca khúc của Trịnh.Tình yêu trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng, bao dung. Có tìm đến nhau, có hò hẹn, có mong chờ. Giận hờn đấy, buồn đau đấy, xót xa chia lìa đấy nhưng dường như tình yêu không hề tan vỡ, không hề biến mất mà cứ khói sương lãng đãng suốt một đời. Những chàng trai mười bảy, mười tám thuở ấy thường mượn một chỗ ngồi trong quán , nghe nhạc để làm thơ, để ngóng đợi người mơ, một tà lụa trắng, một suối tóc mềm, một bờ vai nhỏ, tiếng guốc khẽ khàng trên hè phố để rồi nhờ nhạc nói hộ nỗi niềm. “ Em đi qua chốn này…sao em đành vội. Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài…” Lời ca cuốn theo bước chân” người ấy” như một lời ngỏ nhẹ nhàng, kín đáo, cũng có thể là một cách trêu ghẹo dễ thương chẳng làm cho ai phải bực mình.Nhưng đâu phải chỉ có những tình ca đến với lòng người….
3. Năm 1972, 1973… với những đêm lửa trại ở các trường học phố Quảng. Bầu trời lấp lánh sao. Những đôi mắt lấp lánh dõi theo ngọn lửa hồng bốc cao, hừng hực.Tiếng ca bay lên …” Mặt đất bao la anh em ta về gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng. Trời rộng bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam…nối liền một vòng tử sinh…” Không có buổi sinh hoạt nào thiếu những lời ca ấy. Những lời ca đưa tình người gần lại.Từng đóm bụi tro sáng lên cùng ánh lửa rồi lụi tàn, mất hút giữa không gian tối đen gợi lòng ta liên tưởng đến cái hữu hạn, cái mong manh của một kiếp người. “ Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi cát bụi mệt nhoài. Tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi…” Tiếng động ấy là nhịp thời gian hay tiếng đinh đóng vào cỗ quan tài? Sống trong một hiện tại đầy rủi ro bất trắc, tương lai là một dấu chấm hỏi lớn thì cái chết là nỗi ám ảnh của con người dù đang ở tuổi đôi mươi. “ Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng. Đại bác nghe quen như câu dạo buồn…” Tuổi trẻ phố thị dần dần nhận diện chiến tranh và thân phận con người từ những” Ca khúc da vàng”, “ Kinh Việt Nam” luôn được hát vang trong những đêm lửa trại, trong những đoàn du ca ngày ấy.Ca khúc Trịnh Công Sơn, tâm hồn chàng phiêu lãng họ Trịnh, đã thấm vào chúng tôi từ những năm tháng tuổi trẻ cho đến tận hôm nay và chắc chắn sẽ lưu lại mãi đến khi chúng tôi giã biệt cõi đời. Tôi chỉ biết nói “ Tạ ơn ông”.Ngày ông mất tôi không có cơ duyên đưa ông về với đất. Ngày 1- 4 năm nay có ai đó đến viếng ông xin ngắt giùm tôi từng đóa hoa hồng trắng tung nhẹ lên phần mộ ông thay lời tưởng niệm.
TRẦN THỊ CỔ TÍCH ( 2005)

Posted in 04. Bài viết | 2 Comments »

BỜ XE NƯỚC – QUẢNG NGÃI. Đồng Sa băng

Posted by thinhanquangngai1 trên 25/03/2015

1002834_481891941904513_1756092513_n

BỜ XE NƯỚC – QUẢNG NGÃI

Thân tặng đồng hương Quảng Ngãi, để nhớ về tiền nhân của chúng ta, trong niềm tự hào bởi một công trình vô tiền khoáng hậu, một công trình thủ công xuất phát từ những bộ óc và công sức của những người dân chơn chất, chân lấm tay bùn: “Nông dân xứ Quảng”. “Đã bao lâu rồi không về miền Trung thăm người emNắng mưa đêm ngày cách trở giờ xa xôi đôi đườngNgười ơi có về miền quê hương Thuỳ Dương …” Tiếng hát ấm áp của Quang Lê trong đêm Hè nóng bức đã làm lòng người tha hương càng thêm ray rức nỗi nhớ. Dù ở tận trời Tây, miền Đồng Tháp, trên cao nguyên Lâm Viên, hay giữa đô thành nắng ấm Sài Gòn, những người con của miền Trung nói chung, và Quảng Ngãi nói riêng, khi nghe những lời hát trên chắc sẽ nhớ về quê hương. Nỗi nhớ bao la rồi sẽ cô động lại trên mảnh đất nhỏ bé thân yêu nơi họ chào đời. Vì nơi ấy có biết bao nhiêu kỷ niệm, và cuộc sống đã hòa quyện vào ký ức. Rồi ký ức sẽ lần mò về những ngày xa xưa, và trong giây phút nào đó những ký ức nhạt nhòa cũng tự hỏi: “Ờ, quê hương Quảng Ngãi ngày xưa có gì hùng vĩ nhỉ??!!”Câu trả lời chắc chắn sẽ là: bờ – xe – nước.Đúng vậy, những bờ xe nước khổng lồ trên đất Quảng đã đi vào lòng biết bao nhiêu người con xứ “Nẫu”.Bờ xe nước đã gắn bó mật thiết với những người nông dân trên con đường dẫn thủy nhập điền, để ngày đêm đã tưới biết bao nhiêu cánh đồng lúa trên quê hương Quảng Ngãi. Ngoài công việc quay tròn bên bờ sông, mang nước đưa về những cánh đồng nằm cheo leo khắp nơi, bờ xe nước Quảng Ngãi còn là một thắng cảnh hùng vĩ, có một không hai trên quê hương Việt Nam. Và bờ xe nước cũng là niềm tự hào của những người con xứ Quảng. Những du khách, kể cả những người từ Tây phương, nếu có lần đi ngang qua hoặc dừng chân bên bờ sông Trà Khúc hoặc sông Vệ trong những ngày muà, chắc sẽ được thấy bờ xe nước ngạo nghễ và cao lớn đang quay đều bên bờ sông, mà lòng khâm phục những người tạo dựng lên nó. Rồi con người nhỏ bé, đứng nhìn những hạt nước nhỏ li ti như sương mù bao quanh những bánh xe khổng lồ, có lẻ cũng thắc mắc: không biết ai là người sáng chế ra bờ xe nước? Đi ngược thời gian để tìm câu trả lời cho câu hỏi trên, một nhà hành chánh của sở Văn Hoá Pháp, P. Guillenminet, trong tạp chí Bullettin des Amis du Vieux Huế (BAVH) trong bài “Một kỷ nghệ của người Annam: Những bờ xe nước ở Quảng Ngãi”, ấn bản năm 1926, Volumn 2, chương VI, đã khảo cứu và ghi nhận như sau: “Bộ giáo khoa tổng hợp của Trung Hoa, Châu Chí Tổng Khảo, diễn tả rằng bờ xe nước làm bằng tre, được đẩy bởi dòng nước, tồn tại tại Trung Hoa và đặc biệt là ở phía nam. Một số nhân viên phái đoàn phòng thương mại của thành phố Lyon, Pháp, cho rằng đã thấy bờ xe nước hiện hữu tại làng Thất Xuyên, Trung Hoa. Và phái đoàn quân sự lại nói rằng bên kia ranh giới Việt-Hoa có bờ xe nước tương tự như bờ xe nước ở điạ phương của họ. Ở đồng bằng Bắc phần lại cho rằng bờ xe nước phát xuất từ Trung Hoa và người sáng chế ra là vua Thần Nông. Nhưng những bàn luận về nguồn gốc tác giả nêu trên không đủ căn bản để thuyết phục rằng Trung Hoa là nơi phát minh ra bờ xe nước.” P. Guillenminet tin rằng người Việt và người Trung Hoa có lẻ đã học được kỷ thuật căn bản thành lập bờ xe nước từ phương Tây và đã cải biến cho phù hợp với địa phương.Có ngưồn lại cho rằng viên chủ sự hành chánh Pháp, LaPorte, ở Quảng Ngãi nói rằng “Lão Thêm” ở làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, đã sáng chế ra bờ xe nước.Cũng theo tạp chí BAVH, thì bờ xe nước xuất hiện ở đồng bằng Bắc phần, Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa, Bình Định vào giữa thế kỷ 18 và Quảng Nam đầu thế kỷ 19. Nhưng những bờ xe nước ở những địa phương trên rất đơn sơ, chỉ có một bánh và không qui mô như những bờ xe nước tại Quảng Ngãi. Khi đề cập đến những bờ xe nước tại Quảng Ngãi, nhà hành chánh P. Guillenminet đã ghi nhận rằng: Vợ chồng Lão Diệm, và nhất là người đàn bà gọi là “Mụ Diệm” đã có công mang bờ xe nước từ Bình Định vào làng Bồ Đề , Quảng Ngãi, năm 1754. Bờ xe nước đầu tiên được thiết lập trên bờ sông Vệ, làng Bồ Đề, và Trùm Sanh với chức vụ Cai Yến Bối quản lý bờ xe nước này. Đến năm 1825 bờ xe nước được thành lập trên sông Trà Khúc và đến năm 1900 thì bờ xe nước trên sông Trà Bồng cũng được thiết lập(*).Dường như mãi đến ngày nay, vấn đề xuất xứ và tác giả của bờ xe nước vẫn còn là một ẩn số của một phương trình bậc n, mà nghiệm số có thể chỉ có một, hai, hoặc nhiều hơn, và cũng có thể thực hay ảo. Tùy người suy nghiệm.Duy chỉ có điều cần ghi nhớ là người Á Đông nói chung, và Việt Nam nói riêng, lúa gạo là thức ăn chính trong mỗi bữa ăn. Không như người Tây phương dùng bánh mì đệm trong những bữa ăn. Và điều khác biệt là những cánh đồng lúa mì không cần nhiều nước trong qúa trình trồng tỉa như lúa gạo, ngoại trừ lúa gieo. Thậm chí những cánh đồng lúa mì tại miền bắc Mỹ ngày nay, từ ngày gieo hạt đến ngày thu hoạch, đồng lúa mì lúc nào cũng khô ráo.Thế nhưng công trình xây dựng những bờ xe nước tại Quảng Ngãi rất tốn kém, và mỗi năm bờ xe nước phải phá đi và tái tạo vào năm tới vì vấn đề lụt lội hằng năm. Không như những cánh đồng ở miền Nam Việt Nam, đất thấp và có nhiều hệ thống sông, kinh rạch chằn chịt cung cấp cho ruộng lúa; Phần nhiều, ruộng lúa ở miền Trung nằm dọc theo rặng Trường Sơn, nếu thiếu vắng bờ xe nước thì những cánh đồng khô nức nẻ sẽ không đủ năng suất tạo ra lúa gạo nuôi dân. Vậy bờ xe nước là sự cần thiết trong mạch sống của người dân xứ Quảng. Những nơi khác, như Trung Hoa, nếu đã xử dụng bờ xe nước qui mô mhư tại Quảng Ngãi cho công trình dẫn thủy nhập điền, thì chắc hẳn sẽ được lưu lại trong lòng người dân những hình ảnh và văn hóa của địa phương ấy cho hậu thế.Những bờ xe nước tại Quảng Ngãi đã đóng một vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp địa phương trên hơn ba trăm năm kể từ năm 1754. Mãi đến khoảng đầu thập niên 1980, khi hệ thống kênh Thạch Nham được thành lập cho công trình dẫn thủy nhập điền, thì những bờ xe nước được thay thế bằng những trạm bom. Và kể từ đó những bờ xe nước Quảng Ngãi chỉ còn là một dấu vết lịch sử của một thời mang nước cho dân.Người viết, cũng một thời đã sống bên cạnh và thường đu lên bờ xe nước những buổi trưa hè nóng cháy, với ký ức lu mờ còn sót lại, chỉ muốn làm một gạch nối giữa công trình của cha ông ngày xưa, và lớp người sinh ra khi bờ xe nước đã thuộc về dĩ vãng.Bờ xe nước hầu hết được thiết lập bằng tre, và được xây dựng bên cạnh bờ sông, dùng sức đẩy của nước để quay tròn những bánh xe. Trên những bánh xe có gắn nhiều ống nước, bánh xe quay múc nước vào ống, và đổ vào hệ thống máng nước, máng nước được nối tiếp vào mương nước để đem đổ vào đồng lúa. Bờ xe nước nào cũng có sự liên kết giữa bánh xe nước, máng nước và hệ thống mương chạy ra đồng ruộng. Vì sự liên kết này nên mỗi năm bờ xe nước được tái lập trên vị trí cũ cũa những năm trước. Nói đến bờ xe nước tức phải nói đến những con sông cưu mang nó. Những con sông có lưu lượng nước lớn, chảy một chiều, nghĩa là nơi có bờ xe nước thì không có nước thủy triều chảy ngược về nguồn. Vì bờ xe nước chỉ quay một chiều. Quảng Ngãi có ba con sông lớn: sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Bồng. Ba con sông này phát nguồn từ rặng Trường Sơn, chảy len lỏi qua làng mạc và cuối cùng đổ vào biển Đông. Ba con sông này trải dài trên chiều dọc Nam Bắc của điạ bàn Quảng Ngãi. Hai bên ven sông là những ngôi làng với những cánh đồng lúa. Và cũng trên ba con sông này người nông dân Quảng Ngãi đã từng thiết lập những bờ xe nước để đem nước vào ruộng đồng. Sông, có khúc bồi có khúc xiết nên có những đoạn bờ sông có bãi cát và có đọan không có bãi cát. Cũng vì vậy mà công trình thiết lập bờ xe trên mỗi khúc sông đều khác nhau. Những bờ xe nằm trên khúc sông có bãi cát thì phần căn bản của bánh xe (như căm và niền bánh xe) được thiết lập trên bãi cát, xong mang treo vào trục quay dưới nước và tiếp tục xây dựng phần còn lại (như ống ước, phên). Ngược lại, những bờ xe nằm trên khúc sông không có bãi cát và nước chảy xiết thì những bánh xe được thiết lập trên bãi cát gần đó xong đưa về gắn trên trục quay dưới nước và tiếp tục phần còn lại.Tùy theo cường độ và lưu lượng của giòng sông mạnh hay nhẹ và nhu cầu nước cung cấp cho cánh đồng, có những bờ xe nước có đến mười bánh, mười hai bánh như những bờ xe nước trên sông Trà Khúc.Những bờ xe nước trên sông Vệ chỉ có bốn bánh, và hầu hết mỗi thôn đều có bờ xe nước cho ruộng đồng của thôn đó.Những bờ xe nước ở Quảng Ngãi đều có cách thiết lập tương tự nhau, nên bài viết này chỉ nói đến chi tiết cách thành lập và điều hành của bờ xe nước Ba Bình, xã Nghĩa Thành (nay là xã Hành Thịnh, huyện Nghiã Hành) trên sông Vệ vào những năm 1963 và 1964.Xã Nghĩa Thành, khúc sông tính từ chân đèo Quán Thơm đến đập Bến Thóc, thôn An Ba, có năm bờ xe nước, một bờ cho mỗi thôn: bờ xe Thuận Hoà cho thôn Thuận Hòa, bờ xe Chán Thuỷ cho thôn An Chỉ, bờ xe Xuân Ðình cho thôn Xuân Đình, bờ xe Ba Bình cho thôn Ba Bình và bờ xe Mỹ Hưng cho thôn Mỹ Hưng. Trên năm bờ xe trên riêng chỉ có bờ xe Chán Thủy đổ về thôn An Chỉ của xã Nghĩa Phước (nay là Hành Phước).Ngòai ra thôn Đồng Xuân (nằm giữa Ba Bình và Mỹ Hưng) không có bờ xe nước thì lại được thay thế bằng nhà máy nước, nhà máy nước ông Trần Công Sơn. Năm bờ xe nầy, trừ bờ xe Chán Thuỷ ra thì tất cả còn lại đều có bãi cát rộng lớn bên cạnh.Ban điều hành của một bờ xe gồm có Trương Cử, một Trùm xe, và 4, 5 người thợ xe. Trương Cử có thể có nhiều người, mỗi người làm chủ một phần của bánh xe, gọi là tên. Có nửa tên xe tức là làm chủ nửa bánh xe. Những Trương Cử là những người bỏ vốn, và công để xây dựng bờ xe. Ðến ngày gặt lúa thì tuỳ theo ruộng sâu hay ruộng cạn, ruộng trên gò hay ruộng dưới trũng, ruộng nằm xa nước xe hay ruộng nằm gần nước xe mà chủ ruộng sẽ đóng lúa cho Trương Cử nhiều hay ít. Những lúa nầy sẽ được chia trả phần vốn cho mỗi Trương Cử trước, xong trả công cho Trùm xe, và thợ xe, cuối cùng lúa còn lại đem chia phần lời cho các Trương Cử.Ngày xưa, những năm 1975(?) trở về trước, ruộng lúa miền Trung mỗi năm chỉ cấy một mùa, và vụ lúa bắt đầu vào cuối tháng Ba âm lịch đến tháng Tám, tháng Chín âm lịch là lúa được gặt về. Lúa chỉ cấy trong mùa khô vì sau tháng Chín tháng Mười là đến mùa mưa, nước lụt sẽ làm hư thối lúa. Cho nên những bờ xe nước chỉ được thiết lập và hoạt động vào giai đoạn đầu của vụ lúa, đến khoảng tháng Chín âm lịch thì lúa đang chín, không cần nước nữa và mùa lũ lụt cũng sắp đến, bờ xe nước sẽ được gỡ ra trước khi nước lũ đổ về. Mỗi năm vào tháng Hai âm lịch Trùm Xe đến nhà Trương Cử thu tiền để mua tre và vật liệu xây dựng bờ xe, tuỳ theo số tên xe Trương Cử làm chủ, mà thu nhiều hay ít. Trùm Xe lấy tiền đi mua tre. Mấy thợ xe là người đốn tre và mang tre ra bờ sông. Việc đầu tiên là trùm xe và thợ xe sẽ đóng một cái bè bằng tre, rộng lớn dùng để di chuyển trên sông, kế đến họ xây một cái nhà nhỏ trên cát bên cạnh bờ xe gọi là chòi xe. Chòi làm bằng tre, vách và mái lợp bằng rơm. Chòi xe rất kín gió và có luôn cả bếp núc để thợ xe nấu ăn hằng ngày. Sau khi có chỗ ăn ở đàng hoàng, trùm xe và thợ xe sẽ bắt tay vào việc. Trùm xe và thợ xe lên rừng chặt một loại dây to cỡ cổ tay và rất dẽo đem bỏ ra bè chở về để làm bánh xe. Những dây này dùng quấn chung quanh niền bánh xe cho cứng. Nếu không có loại dây này thì thợ xe phải chẻ lạt tre ra đánh thành một dây lớn, dai, thay thế. Trùm xe và thợ xe còn thu của Tương Cử những thứ như: lá mía khô, lá chuối khô dùng để làm bờ độn giữ nước.Trong công đoạn xây dựng bờ xe có rất nhiều việc, và những việc này có thể làm song song với nhau để tranh thủ thời giờ. Vì cuối tháng ba âm lịch là những thửa ruộng khô nức nẻ đã được cuốc ải xong cần nước để bừa. Cho nên chu kỳ bờ xe nước, nhữmg thửa ruộng lúa và thời tiết trong một mùa luá đều ăn khớp vào nhau.Trùm và thợ xe mang bốn trục xe của năm cũ ra dựng trên bãi cát. Kế đến là những thân tre già, lớn sẽ đước trảy nhánh sạch sẽ, cắm vào trục xe làm căm. Trục xe có chiều dài chừng ba thước. Hai đầu trục xe tròn và được niền bằng sắt. Ngoài đầu hai trục được đục nhiều lỗ chen kẽ dùng để cắm căm, hai lớp căm từ hai đầu trục bắt chéo qua nhau. Bề ngang viền bánh xe rộng cỡ một thước và được đánh chung quanh bằng sợi dây dẽo dai mang từ trên rừng về.Trong khi căm và niền xe đã được lắp vào trục trên bãi cát thì thợ xe dùng những thanh tre, lớn cỡ ba ngón tay khép, đang thành những tấm phên. Và những người thợ khác lại lặn xuống đáy sông xúc sỏi đổ thành một lớp mỏng nơi những bánh xe sẽ được dựng lên. Những tấm phên tre sẽ được đóng lên trên lớp sỏi làm thành một cái sàn để giữ cát khỏi bị xoi mòn. Và cũng trong lúc này, thợ xe sẽ chôn những cột trụ trên lớp phên để từ đó bánh xe được gác lên. Bốn bánh xe thì có ít nhất tám cột trụ lớn và những cột trụ nhỏ chôn bên cạnh để chống đỡ cho khỏi bị xiên, ngã.Khi cột trụ xe được chôn chặt dưới cát là cũng đến lúc những bánh xe trên bãi cát được dời xuống nước đặt lên trụ. Giai đoạn này cần có nhiều người dân trong làng giúp để mang bánh xe ráp vào trụ. Một đoàn người như đàn kiến bu bên bánh xe, họ dùng phương pháp đòn bẫy và những dây dừa buộc vào bánh xe kéo dựng dậy và cho lăng từ từ xuống nước, rồi ráp vào trụ xe. Mỗi bánh xe có đường kính cỡ năm thước, to và nặng, vậy mà những con người nhỏ bé đã chinh phục và đặt vào trụ chống đỡ rất ăn khớp. Khi những bánh xe đã được ráp vào trụ chống đỡ và những cây chống chèo được cài lên giữ vững bờ xe, thì thợ xe gắn những tấm phên hai đầu bờ xe, lấy cát tấp lại để chống lại con nước xoáy có ảnh hưởng đến bờ xe.Trong khi trùm và thợ xe ráp bánh xe thì một số người khác lại mang những khúc tre già ra đóng thành một hàng trụ ngang qua con sông. Cách chừng vài thước là cắm một cây trụ xuống cát, một bên chống bằng những khúc tre khác để giữ vững. Hàng trụ này dùng để giữ bờ độn. Bờ độn là một bờ cát như một con đê nằm chắn ngang con sông giữ nước lại. Dọc theo những cây trụ người thợ xe gắn vào những tấm phên bằng tre và độn một lớp lá mía khô, lá chuối khô làm thành một bức tường. Sau đó Trương Cử mang trâu bò xuống giòng sông kéo cát tấp vào bờ độn. Công việc kéo cát gồm có một cái trang bằng gỗ hoặc tre được buộc vào cổ hai con trâu hoặc bò. Trâu và bò kéo cát dưới lòng sông đem tấp lên bờ độn thành một dãy cát cao hơn mặt nước. Bờ độn chặn nước lại, làm tăng sức đẩy để quay tròn bốn bánh xe. Có những bờ xe nước ở khúc sông sâu và nước chảy mạnh, như bờ xe Chán Thủy hay một vài bờ xe trên sông Trà Khúc, thì bờ độn bằng cát không làm được. Những bờ xe này có bờ độn nổi, nghĩa là bờ độn chỉ làm bằng những tấm phên tre chắn ngang sông và không ăn sâu đến đáy sông.Trên bờ độn được trổ hai lỗ cổng gọi là lỗ cổng gió. Lỗ cổng gió dùng để ghe thuyền chạy qua và những khi con nước lớn quá thì lỗ cổng gió được mở ra để điều hoà sức nước khỏi làm vỡ bờ xe. Trên mặt bờ độn thợ xe trồng miá để giữ cát khỏi chuì xuống nước. Những dãy miá này lớn rất lẹ nhưng khi lớn có thể ăn được thì cũng đến lúc bờ xe nước phải gở ra đem cất vì muà xe cũng đã qua.Song song với những người Trương Cử kéo cát bờ độn là những thợ xe lo đóng dàn máng và mang những máng nước từ năm trước đem đặt lên. Máng nước được làm bằng tôn hay đan bằng tre và trét dầu rái lên cho giữ nước và bền. Những máng nước được cất giữ bởi trùm xe và mỗi năm máng tre phải sơn lại một lớp dầu rái. Dàn chống để đặt máng làm bằng tre, trên mặt dàn chống được lót một lớp vĩ tre trước khi đặt máng nước lên.Máng nước được bắt trước mặt bờ xe, chạy dài trên bãi cát, khi vào gần làng hay khu đất cao máng nước sẽ bắt vào mương nước. Và mương nước chạy xuyên qua làng thẳng đến cánh đồng.Trong khi hệ thống máng nước, bờ độn được thiết lập, thì thợ xe sẽ gắn những tấm phên vào bánh xe. Tấm phên đan bằng tre, hình vuông hoặc hình chữ nhật rộng bằng chiều ngang bánh xe. Trên vòng tròn bánh xe, cách khoảng chừng một, hai thước sẽ gắn một tấm phên xe. Dòng nước chảy tống vào phên xe và đẩy bánh xe quay tròn. Kế đến, thợ xe sẽ gắn ống nước vào bánh xe. Ống nước cũng làm bằng tre, dài chừng vài ba lóng tre, những mắt tre được đục thủng xuyên qua, và một đầu ống được giữ kín để chứa nước. Ống nước được gắn vào bánh xe với độ nghiên chừng 15 độ. Khi bánh xe quay xuống nước, ống nước sẽ bị nhận chìm trong nước và nước sẽ chun đầy vào ống, rồi bánh xe quay mang ống nước lên đến đỉnh và bắt đầu quay ngược xuống là nước trong ống đổ ra cái máng nhỏ nằm giữa hai bánh xe. Máng nhỏ này được bắt vào hệ thống máng lớn để đưa vào dàn mương nước. Trong khi gắn phên xe và ống nước vào bánh xe, thợ xe dùng cây gậy thọt ngang qua bánh xe để bánh xe không quay tròn được. Thì ra người ta nói thọt gậy bánh xe là thế!Đến đây, bờ xe coi như hoàn thành và có thể đưa vào hoạt động. Trùm xe, thợ xe và những Trương Cử cùng những người lớn tuổi trong làng làm một buổi lễ nhỏ bên bờ xe gọi là lễ khánh thành và cúng bái thần sông cùng ma da phù hộ bờ xe. Sau đó những cây gậy chắn ngang bánh xe sẽ được rút ra, và những bánh xe bắt đầu quay tròn trên giòng sông. Những ống nước trên thành xe thay phiên nhau hụp lên hụp xuống trong dòng nước và thi nhau đổ lên máng nước. Những dòng nước trắng xoá đuổi nhau chạy trên máng nước, va chạm vào thành máng kêu róc rách. Đến đầu làng máng nước đổ vào mương và những đưá bé trần truồng nằm sẵn dưới mương, đợi chờ. Rồi oài lên những tiếng reo hò của bầy con nít“Ô kià! Con nước đã về.”Từ đây những thửa ruộng khô nức nẻ sẽ được uống những dòng nước trong lành từ giòng sông sau làng. Màu vàng cháy của cánh đồng cũng bắt đầu chuyển thành màu xanh tươi, màu xanh của nhựa sống. Những con chim Chà Chiện con trên luống đất ải cũng đã mọc cánh, đang bay đi. Và thoảng trong tiếng gió, giọng ca của ai: “Dẫu xa muôn trùng tôi vẫn còn thương sao là thương!” (*): Tạp chí BAVH, ấn bản 1926, volumn 2, chương VI, trang 159). Đồng Sa Băng. 24 tháng 7, 2007

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

Thơ Nguyễn Mậu Triết – Bài Vương Chi Lan

Posted by thinhanquangngai1 trên 09/10/2014

Thơ Nguyễn Mậu Triết

Nhà Thơ Nguyễn Mậu TriếtVào lúc 9 giờ ngày 5 tháng 10 năm 2014, tại café Hương Quỳnh số 42/59 Hoàng Hoa Thám, Phường 7, Quận Phú Nhuận, TP.HCM diễn ra buổi giới thiệu  Ngày Thơ  của tác giả Nguyễn Mậu Triết.

Đến tham dự có đông đảo bạn bè, thân hữu và người thân đến chúc mừng Ngày Thơ Nguyễn Mậu Triết. Do Nhà thơ nhà báo Đoàn Vị Thượng chủ trì buổi ra mắt tập thơ Thơ Nguyễn Mậu Triết. Được diễn ra trong không khí ấm áp tình bạnbè thân hữu của các nhà văn, nhà thơ cùng thế hệ và đồng hương Quảng Ngãi của Nguyễn Mậu Triết, Đặc biệt có sự hiện diện thầy giáo Nguyễn Phước Lai dạy môn tiếng Anh từ năm lớp 6 đến lớp 9 tại quê nhà và Thầy Đỗ Lệnh Hùng Tú Nhàbiên kịch – Đạo diễn cũng đến chia vui với anh. Bên cạnh anh, chị Ngọc Bích là người bạn đời tri kỹ đi bên anh, làm đẹp cho anh cùng hưởng chung bầu không khí hạnh phúc ngày thơ thêm phần sinh động và lãng mạn.

Nguyễn Mậu Triết người con đất Quảng Ngãi vào Sài Gòn từ năm 1990, anh đi dạy đan lát cho các cơ sở tư nhân ở Quận 6, Q. Thủ Đức, Q.12, tỉnh Bình Dương, Đà Nẵng, Vĩnh Long… Dù tất bật với công việc nhưng trong anh đầy ắp những cảm xúc về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, anh làm thơ rất nhiều, anh viết cho vợ, cho con, cho quê hương và bạn bè của anh… Những lúc “trà dư tửu hậu” anh đem ra đọc cho các bạn cùng chia sẻ, bên cạnh đó anh còn viết nhiều bài thơ say có vui, có buồn… Những bài thơ của anh được chọn lọc đến nay anh mới cho ra tác phẩm đầu tay Thơ Nguyễn Mậu Triết, NXB Văn Học năm 2014.

Mở đầu tập thơ là bài thơ Mở  anh viết :

Thời gian trôi 

rồi đồng khô cỏ cháy

một góc trời mù mịt
gió
tro bay
dòng sông chảy
con đò say sóng ngược
cuối con đường người bước vội
hồng phai

Với một người từng trải, anh đi nhiều tỉnh thành trong nước, đi qua và cảm nhận góc nhìn riêng của anh về từng vùng miền… Với anh, Thiên nhiên, tự nhiên vốn có là đẹp, cái đẹp không chỉ bên ngoài cái ta nhìn thấy bằng mắt, sờ, nắm được,… mà cái đẹp trong tâm hồn, anh nhìn cái đẹp theo cách của anh. “Con đò say sóng ngược” con đò say hay chính người ngồi trên con đò đang say… Say trong chén hay chếnh choáng với cái đẹp hữu tình sông nước, say mà thú vị đến thế thì ai cũng muốn được một lần say.

Trong bài Chiều say:

Mưa xé toạc dáng chiều

hoàng hôn về vội vã

ta xé toạc lòng mình tìm gặp bóng hình em
vẫn dịu dàng cuộn tròn trong nỗi nhớ
mà nỗi nhớ cay nồng hơn men rượu
cho ta say
chiều nay
và mười năm rồi vẫn thế
những cơn mưa cứ ngập đầy kýức
trôi bồng bềnh kỷ niệm
ta cấu cào lên vết thương vừa kín miệng
say… trong cơn đau

Sự khao khát tình yêu cháy bỏng, tác giả muốn xé toạc lòng mình tìm bóng hình người trong mộng, anh say khướt trong nỗi nhớ cuồn cuộn khi yêu, tìnhyêu đúng là mãnh liệt anh dồn nén 10 năm ngập đầy ký ức và ngập đầy nỗi đau, anh vẫn đi tìm cho dù:

Tình tan theo mùa rơi

rớt cuối vàng thu cũ

dấu tan trong sương mù
vết tàn treo hoang vu…

 

Hay những chùm thơ ngắn:

 

Tình trở giấc muộn
vay đùa tan vỡ
vong buồn nức nở
chạm sướt nguyên sơ…

Và trong bài Đợi quên anh viết:

Gương mờ…
bụi phủ mù căm
bôi xưa rỏ nhớ
âm thầm gọi tên…

Nguyễn Mậu Triết gặm nhắm nỗi cô đơn, và trống vắng về tình người, tình đời, cô đơn ngay chính anh anh chạm phải bóng mình, hồn phiêu về nỗi nhớ tuổi thơ, những ngày tháng cũ ùa về trong anh qua bài Chạm bóng:
Với tay!
chạm bóng mình trên cỏ
chạm vô tình màu cũ trắng nôn nao
gió thì thào qua âm thanh dòng phố
uống mơ hồ ta níu tuổi thơ bay
rải ngọt ngào theo chân ai bước phố
theo về

Chạm bóng
bên tường vôi cũ
rơi bàng hoàng
sót một vệt xanh

Bao điều anh chia sẻ, gởi gắm qua thơ những lúc anh không say hay anh say khướt, thì những vần thơ say như trào lộng  trong thơ bài Khúc tửu ca chạy dàimiên man, làm cho người thưởng thức thơ say cũng chếnh choáng theo trường khúc xuyên suốt bài thơ. Tác giả uống rượu không dùng ly mà dùng “chén”, từ ” chén” được lặp đi lặp lại khiến người đọc không uống cũng say.
Rượu ngon…
ừ chén rượu ngon
nhân gian
được… mất 
vuông… tròn
trả… vay

Rượu nầy rót 
chén riêng ta
trong cơn ngất ngứ
sao còn trớ trêu?

Rượu ai?
một chén tiểu yêu
mềm môi
cạn
đốt nguyên chiều ta đau

Hương bày…
nửa chén vừa… phai
bờ môi nhạt
chạm…
hương ngây dại…
chờ
giọt…
từng giọt rụng
ngu ngơ
chao trong chén
giọt vỡ thơ
ngụm chiều…

Và còn nhiều “chén” nữa… Xuyên suốt tập thơ nghe ra tác giả cứ như người say xưa, nhưng thực tế thì tác giả không say bằng cái say của người thật mà say ở cửasổ tâm hồn, say vì nhân tình thế thái, tác giả đánh lừa người đọc mà chính anh thì rất tỉnh mới biết mình đang say…
Đã mùa thu chưa?
tôi không biết!
chiều cứ vàng
lá cứ rớt quanh năm
gió cứ thổi
qua ngày hiu hắt
đêm lạnh nằm
chổ rúm co ro…

Ai hỏi tác giả về mùa thu, tác giả vì say nên tác giả không biết đã mùa thu hay chưa? Nếu hỏi nữa thì tác giả bảo tôi không nhớ, nhưng biết “mùa thu màu gì bên phố em qua? lá rụng vàng?”  mùa thu đến, mùa thu qua tác giả không đợi chờ, trông ngóng “Đã mùa thu chưa? không đợi!”… tất cả là tự nhiên, mùa nào với tác giả cũng đẹp, cũng cô đơn man mác… 

Nhưng Thơ Nguyễn Mậu Triết không bi lụy mà miên man theo cảm xúc, cái tinh tế mà tác giả cho người đọc cảm nhận sự say tâm hồn, thấy cái đẹp, cái thú vị trong thơ khiến người đọc bài thơ đầu thì muốn đọc tiếp bài thơ sau… và lôi kéo người đọc đồng cảm về phía tác giả đó là cái lạ, cái nghệ thuật trong thơ Nguyễn Mậu Triết.

Người viết

Vương Chi Lan

 

 

Posted in 04. Bài viết | Leave a Comment »

Nhà thơ Lâm Anh: Cũng vì người mà trổ hết mùa bông

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/01/2014

Lam Anh

NHÀ THƠ LÂM ANH: Cũng vì người mà trổ hết mùa bông

 @ Vương Chi Lan

 Nhà thơ Lâm Anh đã ra đi. Tin buồn ấy bạn bè liên tục truyền nhau. “Quá giang thuyền ngược” còn đây, những trang thơ còn đó, giọng người đọc thơ sau cơn bệnh còn chưa rõ.

 Lâm Anh là người mà suốt một đời mong mỏi góp mặt trên đời một tác phẩm nhỏ nhoi trước khi về “xứ khác”. Những người bạn, những người em, đã góp mặt chung tay để có được cái ngày vui mừng xúc động. Những người đã cùng tôi chăm chút tập thơ “Quá giang thuyền ngược” cho đến giờ phút cuối cùng đứa con tinh thần của Lâm Anh ra đời. Người mà tôi cảm động nhất đó là anh Lê Vinh Út, anh chọn Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, Lâm Anh | 3 Comments »

Lâm Anh, dòng thơ của kẻ bị lưu đày

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/01/2014

Lâm Anh, dòng thơ của kẻ bị lưu đày

@ Nguyễn Lệ Uyên

Lâm Anh sinh năm 1942 ở Quảng Ngãi. Ông thuộc thế hệ chúng tôi nhưng cách tôi một khoảng năm tháng khá xa. Biết và đọc ông khá lờ mờ và không nhiều, khi ông còn là cán bộ ngành thông tin ở một huyện nhỏ quê nhà, trong nhóm Trước Mặt của Phan Nhự Thức. Mãi tới năm 2004, tình cờ gặp ông ở Đà Lạt và tình cờ được nghe ông đọc thơ của chính ông trong bữa rượu mới nhận ra: ông có nhiều con người trong một người. Ông la đà trong men rượu và thơ la đà trong ông giữa ngọn đồi đầy cỏ hoa và đêm xuống nhập nhòa. Thật bất ngờ: bất ngờ bởi chất thơ lạ, bởi giọng đọc lạ, gần như chất giọng ấy đã lột truồng tất cả tứ trong thơ, lột truồng chính ông, lột cả màn đêm để đắm chìm vào cõi khác, bồng bềnh mênh mông… tưởng chừng như ông đang trầm mình trong đáy hồ Xuân Hương vọng lên những tiếng chép miệng não nuột một kiếp người:

Như thể mày vừa ra khỏi núi
chống gậy bằng vai chống trên vai
đôi chân ngâm rượu lâu ngày ấy
chợt rã vào tao những hớp đầy…
Muốn thụi cho nhau đau mấy cú
cho rã tan thêm nỗi lục bình
nghĩ thương con nước không còn sức
ngầu bọt vào em ở cuối đường
Thôi tao về
nói sao cho hết
mặc mẹ mặt trời mọc ở đâu
chớ mở bàn tay ra hỏi thử
đã cầm bao nhiêu cõi nổi trôi
(Gặp Hạ Đình Thao).

Vậy đó, chất giọng nghẹn ngào rung lên tứ thơ lộc cộc như thể đang bước trên đoạn đường đầy Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB5, Lâm Anh | Leave a Comment »

Lá thư chưa gửi (Quý viếng hương hồn thi sĩ Lâm Anh!)

Posted by thinhanquangngai1 trên 14/01/2014

Lá thư chưa gửi (Quý viếng hương hồn thi sĩ Lâm Anh!)

Lâm Anh hiền đệ xa nhớ!

Vừa rồi nhận được thư phúc đáp của chú anh mừng lắm. Mừng như kẻ đã đánh rơi một báu vật vô cùng quí giá sau nhiều năm giờ tìm lại được với nguyên dáng nguyên hình. Càng thấm thía hơn là: nhân bàn về “Ngụ ngôn sống” nó đã cho lão ca hít thở một làn gió mới lạ đến sững sờ mà chẳng biết làn gió đó xuất phát từ đâu trong vũ trụ bao la đầy bão táp phong ba của cõi trần này.

Thoạt tiên lão ca hơi bị mù mờ vì bố cục và vần điệu bị tác giả hơi xem nhẹ trong cái tổng thể mơ hồ không rõ dáng. Càng đọc đi đọc lại càng thấy những ý tưởng lạ lẫm được nắm bắt và chuyển tải qua từng câu từng ý tuyệt diệu vô cùng.

Không ca ngợi quá đâu nghen! Lão ca là người thế nào trong lĩnh vực khen chê lão đệ quá hiểu rồi. Một khi đã khen điều gì thì điều ấy thật xứng đáng được khen và có thể nói một cách chủ quan rằng với tất cả các độc giả chân chính trên Đọc tiếp »

Posted in 04. Bài viết, CB5, Lâm Anh, Lưu Lãng Khách | Leave a Comment »

Về “n bài thơ ngắn”

Posted by thinhanquangngai1 trên 03/11/2013

VỀ “n BÀI THƠ NGẮN”

nbaithongan-bia1… Qua  “n Bài Thơ Ngắn” của Đinh Tấn Phước (Nxb Văn Học, 2012), ta bắt gặp một kiểu cấu trúc tân kỳ mang tính thể nghiệm, và tiếp xúc một tâm hồn thơ phóng khoáng : thoát ly mọi ràng buộc của cảm xúc sáo mòn trong một khung cảnh chật hẹp. Tác giả vừa làm nghệ thuật ngôn từ trong những bài thơ ngắn đến mức vượt giới hạn cô đúc, vừa phi lộ: “nội dung có thể nằm hoặc không ở những câu chữ”. Không hẳn tác giả đưa triết lý toán vào thơ như có người đã cảm nhận, song nếu không có toán học trong con người thi sĩ Đinh Tấn Phước thì vị tất đã xuất hiện “n Bài Thơ Ngắn”!

Thơ vốn không phải bao giờ cũng biểu hiện cái cụ thể. Cái không cụ thể trong tình ý sâu xa ở đây, gắn với ý niệm ngắn của bài thơ, câu thơ, lặn sâu vào những câu chữ tưởng chừng mông lung và hư ảo, tạo nên hình tượng và dáng vẻ thơ độc đáo. Phong cách thơ Đinh Tấn Phước bắt đầu từ đấy.

Những cái có vẻ mới và lạ trong “n Bài Thơ Ngắn”, tuy không ngoại lệ song cũng không là thông lệ. Thơ là “lĩnh vực của vô cùng” cho mọi ý tưởng sáng tạo. Trong thời đại văn minh trí tuệ như hiện nay, thơ càng tiến xa vào nhiều vùng tìm tòi, khám phá. Đi trong thời đại ấy, Đinh Tấn Phước từ “Chạm Bóng” (Nxb Văn học, 2009)  đến “n Bài Thơ Ngắn” đã góp tiếng nói có phong vị và hương sắc riêng vào nền thơ Việt Nam.

GS. Trường Lưu
(Nguyên Viện trưởng Viện Văn hoá)

Posted in 04. Bài viết, CB5, Đinh Tấn Phước | Leave a Comment »

Hà Quảng và nỗi niềm cùng sông Vệ

Posted by thinhanquangngai1 trên 19/08/2013

Hà Quảng và nỗi niềm cùng sông Vệ

Lời xưa anh lỡ thốt
Em dỗi hờn quay đi
Để chiều nay bạc tóc
Xa rồi, sông Vệ ơi!

(Xa rồi, sông Vệ – Lê Quang Tân)

Với chiều dài hơn 80km, sông Vệ là con sông lớn thứ hai sau sông Trà Khúc trên quê hương Quảng Ngãi. Khởi nguồn từ non cao, sông Vệ chảy qua các huyện Mộ Đức, Nghĩa Hành và Tư Nghĩa, đổ ra Cửa Đại, Cổ  Lũy rồi hòa mình vào biển Đông. Cùng với sông Trà Khúc, sông Vệ cũng ghi một dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời và trong thơ bao lớp thi nhân sinh ra và lớn lên bên dòng sông ấy. Nhà thơ Hà Quảng – một người con của Nghĩa Hiệp, nằm ở bờ Bắc sông Vệ đã đem vào trong thơ mình hình ảnh con sông “đầy mộng ảo” cùng một chuyện tình mong manh nhạt nhòa như sông nước quê hương:

Sông Vệ

Em có về thăm sông Vệ
Dòng nước trong thương nhớ đôi bờ
Cô gái nhà bên lấy Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, Hà Quảng | Leave a Comment »

Góp lời phong nguyệt

Posted by thinhanquangngai1 trên 12/08/2013

GÓP LỜI PHONG NGUYỆT

Sánh vai về chốn thư hiên
Góp lời phong nguyệt nặng nguyền núi sông

Nguyễn Du

Hơn 50 năm trước cụ Vương Hồng Sển có viết cuốn THÚ CHƠI SÁCH, lượng xuất bản sách đến vài ngàn bản (cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do, Sài Gòn 1961) thế mà giờ nầy muốn tìm cuốn sách ấy để đọc không phải chuyện dễ, chúng ta sẽ mua với giá rất đắc những người thích đọc cuốn đó khó có thể mua được, vì nó đã là sách hiếm may ra còn ở những người sưu tầm sách.

Mới đây, tác giả Trần Trọng Cát Tường trong tinh thần yệu sách rồi chơi sách anh đã sưu tầm hơn 15 ngàn bản sách, thao thức với cách chơi sách trong thời đại mới, thì ra nghề chơi lắm công phu, tôi đọc trên mạng giới thiệu VỀ CHỐN THƯ HIÊN của anh, tôi thích quá, tính hỏi tìm mua, không ngờ tôi được nhà thơ Khắc Minh thay mặt tác giả tặng cuốn sách ấy, tôi đọc chậm rãi để tìm xem tác giả thế hệ sau có gì khác với xưa, ngày trước chưa có internet như bây giờ, tôi nghĩ thời nầy muốn sưu tầm, tìm tòi bất cứ điều gì internet cũng có thể giải quyết, cho nên chắc không còn mấy ai mặn nồng với thú chơi sách, nhất là thú sưu tầm sách, thì ra cách nghĩ và cách chơi trong trần gian nầy chẳng ai giống ai, Trần Trọng Cát Tường đọc sách, chơi sách rồi viết sách mỗi Đọc tiếp »

Posted in 04. Bài viết, CB5, Ngã Du Tử | 2 Comments »

Phỏng vấn: Trò chuyện bất chợt với nhà thơ Lâm Anh

Posted by thinhanquangngai1 trên 26/05/2013

PHỎNG VẤN: TRÒ CHUYỆN BẤT CHỢT VỚI NHÀ THƠ LÂM ANH

*NGÔ NGUYÊN NGHIỄM*

                1/ NGÔ NGUYỄN NGHIỄM (NNN): Quá trình hoạt động văn nghệ: Thuận lợi và trở ngại trong mọi hoàn cảnh ? Nếu có,khắc phục như thế nào?

                LÂM ANH (LA): Với tôi, qua nhiều trải nghiệm… thì tất cả đều là nhân duyên. Vâng, thuận lợi và trở ngại đối với tôi chẳng qua chỉ là cuộc chơi ở phía sau lưng. Nếu trước mặt thì nó không khác hơn về Lý và Tính. Hãy xem như con thuyền đang trên dòng sông dài… những khoảng xiết  xoáy của nước khó  mà tránh khỏi. Nếu cần thiết vượt qua thì phải bình tĩnh lách theo chiều và nên có thái độ câu thơ như ngắt đoạn, cần lấm láp bóng đêm để quy ẩn, cần chồng mờ phim ảnh để những định kiến, những vạch lá tìm sâu được phân tán vào gốc ngọn… bởi ánh sáng nào cũng có mặt, biểu hiện sự tồn sinh.

         2/ NNN: Quan điểm sáng tác trên con đường đã đi qua. Xuyên suốt hay chia ra nhiều giai đoạn, thì xin cho biết từng giai đoạn ( nếu có đổi thay sáng tạo ) ?

         LA: Đôi khi sự sáng tạo không cần thiết sự minh chứng nào để chứng tỏ tài năng. Bởi nghệ thuật nó không phải như bản cửu chương. Con đường của nghệ thuật đa Đọc tiếp »

Posted in 04. Bài viết, CB5, Lâm Anh | Leave a Comment »