Thi Nhân Quảng Ngãi

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này

  • Welcome to Thi Nhân Quảng Ngãi!

  • Hân hạnh chào đón quý độc giả ghé thăm. Trang này không có tính chất "đại diện" về bất kỳ ý nghĩa nào cho bất cứ địa phương hay tổ chức nào, đây chỉ là nơi đưa một số bài thơ của một số tác giả lên mạng internet. Hầu hết tác giả trong trang này là người Quảng Ngãi nhưng hoàn toàn không phải hầu hết người Quảng Ngãi làm thơ có trong trang này. Chân thành cảm ơn quý độc giả, tác giả cũng như các bạn bè thân hữu đã gởi bài, giúp trang này ngày càng có nhiều bài vở tư liệu.

  • Giới thiệu sách

  • Phiêu Lãng Ca

    Lưu Lãng Khách

  • Về Chốn Thư Hiên

    Trần Trọng Cát Tường

  • thao thức

    hà quảng

  • bài ca con dế lửa

    nguyễn ngọc hưng

  • 99 Bài Lục Bát

    Nguyễn Tấn On

  • Gieo Hạt

    Huỳnh Vân Hà

  • Quá Giang Thuyền Ngược

    Lâm Anh

  • n bài thơ ngắn

    Đinh Tấn Phước

  • Ảnh ngẫu nhiên

  • Tổng lượt xem

    • 505 909 Lượt

Archive for the ‘Nguyễn Tấn On’ Category

ĐÀ LẠT VỀ RƠI NỖI NHỚ.Nguyễn Đức Phước. Viết về tập thơ “DALAT TÔI” của NGUYỄN TẤN ON

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/06/2018

ĐÀ LẠT VỀ RƠI NỖI NHỚ
(Đọc tập thơ Đà Lạt tôi của Nguyễn Tấn On- NXB Nghệ An năm 2018)
Tôi quen biết Nguyễn Tấn On đã lâu, khi tôi bắt đầu cộng tác cho Tạp chí Áo Trắng (nay do NXB Trẻ và Báo Tuổi trẻ phối hợp ấn hành), thời điểm đó Nguyễn Tấn On đã có nhiều thơ in trên Áo Trắng. Đến nay Nguyễn Tấn On cho ra đời 9 tập thơ. Thơ của Nguyễn Tấn On đa dạng về đề tài, như: viết về lứa tuổi học sinh, sinh viên, về tình yêu, về Đà Lạt nơi anh làm việc hiện nay và quê hương Quảng Ngãi của anh. Nhưng ấn tượng của tôi hơn cả là Nguyễn Tấn On viết về mẹ, đây là đề tài mà trong 8 tập thơ trước của anh đều có với số bài không ít. Với tập thơ thứ chín Đà Lạt tôi, thơ anh vẫn dành cho mẹ:
Mẹ dành cho cái củ khoai
Bẻ đôi con cắn loay hoay nghẹn này
Ra vườn gom lá chiều nay
À ơi sợi khói khói bay thơm làng
(Khói à ơi bay)
Cái nghẹn ngào tình mẹ trong thơ Nguyễn tấn On không chỉ là củ khoai, củ sắn trong những thời kỳ khó khăn gian khổ, mà còn là sợi khói trong mái tranh nghèo của bếp lửa chiều hôm mong mỏi đứa con xa quê trở về, dù đó là mùa xuân hay là những ngày đông buốt giá. Cái tình mẹ ấy không chỉ lúc mẹ còn sống mà vẫn thao thiết khi mẹ không còn nữa:
Tôi lóng cóng chạy giữa chiều gió vấp
Một bó hoa tặng mẹ dẫu muộn màng…
Em quỳ khóc như chưa được khóc
Tôi mủi lòng rưng rức trước mộ bia
(Hoa phụ nữ)
Sự muộn màng của người con hay của nàng dâu trong thơ Nguyễn Tấn On làm cho bao người sực tỉnh. Khi mẹ còn sống chúng ta đã bao lần quên mẹ, đến khi mẹ không còn nữa thì lại bùng nhớ. Dù đó là lời hối lỗi muộn màng, nhưng ở nơi xa xăm nào đó có lẽ người mẹ phần nào được an ủi. Vì đã trải qua những tâm trạng như thế nên trong thơ của Nguyễn Tấn On có điều khác biệt với những nhà thơ khác khi viết về nhạc mẫu của mình, và đây là một trong rất ít những tác giả đã viết được như vậy:
Ngoài kia trời đã vào đông
Còn vạt nắng đẹp hàng thông trước nhà
Dã quỳ bung nụ ra hoa
Mẹ ơi mặc ấm kẻo mà lạnh thân
(Mẹ ơi! Trời đã vào đông)
Lời thơ rất đơn sơ, mộc mạc nhưng Nguyễn tấn On đã nói lên được điều mà nhiều người muốn nói, nhưng rất khó nói, mà nhiều khi không khéo nói ra lại rơi vào sự giả tạo. Nếu lo cho mẹ ruột như thế cũng là bình thường, nhưng với mẹ vợ mà lo như thế thì thế gian này không phải ai cũng làm được. Nhưng để trả lời cho cái tình đó là sự hàm ơn sâu sắc, mà nhờ mẹ đã mang lại cho mình đóa hoa luôn tươi thắm, đong đầy trong ngôi nhà hạnh phúc:
Mẹ ơi đưa tay con cầm
Xin cảm ơn mẹ nỗi trầm luân qua
Mẹ sinh ra một đóa hoa
Con mang về cắm trong nhà ngát hương
(Mẹ ơi!Trời đã vào đông)
Đóa hoa ấy là đóa hoa của mẹ, cũng là hoa của đất trời ban tặng cho Nguyễn Tấn On mà trong Đà Lạt tôi luôn xuất hiện. Với Đà Lạt nếu không mimosa, không hoa dã quỳ, hay không có rừng thông thì đâu còn là Đà Lạt nữa. Dã quỳ là một loài hoa dại mà khi mỗi du khách đặt chân vào Đà lạt thì nhận biết ngay. Cứ mỗi mùa đông khi du khách nhìn thấy những cây thông khi xe qua khỏi đèo Bão Lộc cùng với sự thay đổi không khí từ nóng sang lạnh, cùng với màu vàng rực của hoa dã quỳ ở hai bên đường, thì đó là báo hiệu chúng ta sắp đặt chân đến xứ sở mộng mơ này:
Đà Lạt tôi về
Rơi nỗi nhớ
Hỡi mùa đông dã quỳ rực rỡ…
Ghế ngồi còn ấm bên khung cửa
Và phấn thông bay khắp núi đồi.
(Mùa đông –dã quỳ)
Hỡi mùa đông và cứ mỗi mùa đông tôi thường về Đà Lạt với nhiều kỷ niệm. Và khi về đến miền đất thơ mộng này mà không gặp bạn thơ, không cùng ly rượu thì như thiếu điều gì đó. Mỗi lần gặp nhau, Nguyễn tấn On rất nhiệt tình, cùng ca hát, đọc thơ và uống rượu. Sau nhiều lần gặp gỡ bạn bè từ phương xa đến, Nguyễn Tấn On cùng tâm sự:
Bạn háo hức lên chơi với núi
(Bỗng) Ngỡ ngàng núi có tình nhân
Lủi thủi (đau) ôm đàn nghêu ngao hát
Cõng (nỗi) buồn (bạn) xuống núi lặng thinh
( Bất chợt mưa phía núi)
Với mẹ hiếu nghĩa như thế, với bạn nặng tình như vậy, còn trong tình nhân của Đà Lạt tôi thì ẩn chứa nhiều nỗi niềm:
Đưa tay tôi ôm vết trầy
Từ con tim nhỏ đã gầy nắng mưa
Đưa tay tôi nắm ngày xưa
Cuộc tình năm ấy cũng vừa thôi nôi
(Thôi nôi tình)
Cuộc tình vừa thôi nôi là thế nào nhỉ? Kỷ niệm cuộc tình vừa tròn một năm hay một năm sau cuộc chia ly. Cuộc tình còn nằm trong nôi là cuộc tình gì mà Nguyễn tấn On thổn thức như vậy:
Gọi em khản giọng phố hoa
Đẫm cơn mưa núi ướt Đà Lạt tôi
Tạt vào quán cũ xưa ngồi
Cà phê bỗng nghẹn phía đồi mù mưa.
(Cơn mưa phố núi và tôi)
Những lời lẽ nghẹn ngào bởi sự chia tay mối tình, hóa ra sự thôi nôi ấy là kết thúc một tình yêu rất đẹp và buồn, như: đôi tình nhân dìu nhau đi trong mưa trên phố thị Dran, những ánh nhìn đắm đuối bên hồ Xuân Hương thơ mộng, hay cùng trên chiếc xe thổ mộ đi qua đèo Prenn xuôi về Đơn Dương. Đó cũng là những đêm tắm trăng thơm lừng mùi hương phong lan với những hàng thông cất lên tiếng thì thầm câu hát… Phải chăng đó là mối tình rất đẹp của sơn nữ ở đỉnh Lang Biang đầy huyền thoại, để rồi trong tiếng nghèn nghẹn của ly cà phê trong sự ra đi đầy nuối tiếc:
Biết rằng em đi lấy chồng
Trên cao nguyên lạnh gió lồng lộng bay
Bất ngờ tôi đến nơi này
Gặp hai chiếc bóng của ngày quê xưa
(Nhớ nắng)
Và:
Một nỗi buồn thế kỷ
Thôi mà em về đi
Một cuộc tình hoang phí
Thôi mà em tiếc gì
(Đêm cháy buồn tiễn nhau)
Thôi mà em tiếc gì đó là cách nói thôi, chứ sự chia tay nào chẳng đau đớn, chẳng day dứt. Với 63 bài thơ trong Đà Lạt tôi có khoảng 40 bài viết về Đà Lạt. Với lối viết truyền thống, ngôn từ đơn giản dễ đi vào lòng người. Nguyễn Tấn On đã vẽ lên một Đà Lạt có nhiều hương vị, trong đó đất và người Đà Lạt sinh động trong từng trang thơ. Với dấu ấn của những thâm tình, trong đó tình mẹ được Nguyễn tấn On ưu ái nâng niu hơn cả. Và khiêm tốn khi nói về thơ mình: Nầy thơ tôi đứng mép rìa/Phiêu bồng từ cõi mộ bia bước về…/ Tay ai vò chữ buốt tê/ Tay người gom nắng tràn trề xuân thơm làm cho người viết ngẫm ngợi đến tận cùng của sự tái sinh của thơ. Và tạo nên sự đặc sắc về Đà Lạt tôi trong thơ của Nguyễn Tấn On.
Ngày 05/5/2018. (Đã được Báo VĂN NGHỆ TW Đăng số 21ra ngày 26/5/2018)
Nguyễn Đức Phước

Advertisements

Posted in Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

MINH ĐẠO VIẾT VỀ TẬP THƠ”ĐÀ LẠT TÔI” CỦA Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 08/05/2018

“ĐÀ LẠT TÔI” NÂNG NIU TRIU MẾN
Báo Lâm Đồng.

Cập nhật lúc 08:28, Thứ Năm, 03/05/2018 (GMT+7)

Nhà thơ Nguyễn Tấn On, quê quán ở tỉnh Quảng Ngãi nhưng đã định cư, lập nghiệp tại thành phố Đà Lạt hơn 30 năm nay. Kể từ năm 2000, anh có tập thơ đầu tay “Thơ tặng người”, cho đến năm 2014, tập thơ thứ 8 được xuất bản. Năm nay, Đà Lạt tròn tuổi 125 hình thành và phát triển, nhà thơ Nguyễn Tấn On tiếp tục cho ra mắt tập thơ thứ 9 “Đà Lạt tôi” và dành trọn vẹn đối tượng thẩm mĩ về đất và người Đà Lạt, Lâm Đồng.

Tập thơ “Đà Lạt tôi” của Nguyễn Tấn On. Ảnh: M.Đ

Đầu đề tập thơ bình dị, chân chất: “Đà Lạt tôi” với 63 tác phẩm mới sáng tác trong khoảng bốn năm nay, nhưng được nhà thơ đằm mình chiêm nghiệm, suốt 30 năm. Dù là thể lục bát (28 bài) hay thơ tự do (35 bài), mạch cảm xúc tập thơ “Đà Lạt tôi” đều biểu đạt bằng những ngôn từ dung dị và đằm thắm.

Mở đầu tác giả Nguyễn Tấn On dụng ý chọn ngay bài thơ “Đà Lạt tôi” – cũng là tên tập thơ như một tấm chân tình mời khách vào “ngôi nhà” thơ anh bằng những hình ảnh gợi mở rất Đà Lạt: Hoa Bồ Công Anh “kiêu sa”, ngàn thông “thì thào”, quán cà phê quen thuộc để ngắm “xe đạp đôi leo dốc” và thả hồn với “hẻm phố nghiêng mưa bụi nghiêng”…Sự nghiệp sáng tác của anh chủ yếu gắn với hai miền quê yêu dấu: Quảng Ngãi và Đà Lạt – Lâm Đồng. Với Đà Lạt, anh hòa vào thiên nhiên, đằm sâu khi neo lại, và da diết nhớ quê lúc tha hương. Rất nhiều hình ảnh, đường nét, gam màu anh chiêm nghiệm và đưa vào thơ, họa nên những bức tranh tinh khiết và đỗi thân thương. Đó là Đà Lạt long lanh mặt đất và thoang thoảng không trung, có “sơn nữ gùi ban mai lên núi”; của hương: hương dậy, hương tỏa, hương thơm lừng, hương thánh thiện…; của mưa: mưa tạt, mưa phùn, mưa đẫm, mưa nghiêng, mưa tình, mưa rớt, mưa giăng, sợi mưa, mưa xanh cỏ; của sương: sương óng lung linh, sương nở trắng, sương mù núi đồi, sương lẫn cùng hoa; của thông reo, thông hát, với mây sà, mây choàng, mây tung tăng. Một Đà Lạt khác nữa có nắng lạnh, nắng choàng sương, nắng chênh chao, nắng vàng sa, nắng lang thang, nắng hồng, nắng lung linh, nắng ươm vàng, và gió rướn, gió long đong… Những không gian ấy được Nguyễn Tấn On họa vào trong những vần thơ qua thời gian ngày – đêm Đà Lạt.

“Đà Lạt tôi” của Nguyễn Tấn On cũng không thể thiếu những con người. Nhà thơ, với tình yêu trong trẻo về một cô gái không định danh hoặc có tên cụ thể, hay với tình thương thẳm sâu cùng những chị, những mẹ lao động vất vả lam lũ từ người nhặt ve chai nhọc nhằn đến mượt mà tà áo dài trên bục giảng… Tôi rất thích bốn câu kết trong bài “Đẩy mưa”. Đó là không gian đêm mùa Xuân cao nguyên, lạnh và mưa, dáng chị lao công lầm lũi, nhẫn nại khép lại đêm làm việc cũng là lúc mở ra một ngày tươi mới:

“Hốt đêm hốt cả cơn mưa
Chuông ngân chạm phố cũng vừa đầy xe
Đêm xuân mòn nhánh chổi tre
Đẩy mưa qua dốc-nắng xòe ban mai”

Hay trong bài “Lượm nắng”, hồn nhà thơ chạm đến đại từ đại bi:

“Tay ai vò chữ buốt tê
Tay người gom nắng tràn về – xuân thơm
Mái nhà chín khói sôi cơm
Bên kia góc nhớ vay rơm rạ vàng
Từ khi phố – phố lấn làng
Bà đi lượm giấy dưới hàng tường xây”.

Chia sớt sự gian lao và giá trị lao động, anh còn xem thiên nhiên là đối tượng của tình yêu thương, trân quý môi trường sống bao nhiêu nhà thơ càng chạnh lòng trắc ẩn trước mất mát vơi đi của cái đẹp. Anh đau cùng nỗi đau với Mẹ Thiên nhiên mỗi khi ai đó vứt chai nước thừa xuống hồ anh cảm mặt hồ gương phải “cau mày”, ai đó thả rác xuống đường, anh xót “Như ném đá vào tôi” của người làm thơ đa đoan.

Và con người trong thơ Nguyễn Tấn On còn là người thân, gần gũi nhất. Bài thơ “Hoa phụ nữ” rất xúc động và tôn vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam. Bài thơ như sám hối của kẻ dại khờ mà chân thật. Đó là câu chuyện tặng hoa nhân ngày lễ trọng của nữ giới, với cách kể khéo léo và bất ngờ, đáng yêu và lay động. Bắt đầu là sự vụng về “lăng xăng” của anh đi tìm hoa tặng vợ, người vợ cảm ơn và “ngập ngừng” đề xuất anh mua tặng hoa người mẹ của anh… đã quá cố. Trước trạng huống bất ngờ, anh “long cóng chạy giữa chiều gió vấp” để tìm một bó hoa bước ra nghĩa trang. Và:

“Em quỳ khóc như chưa được khóc
Tôi mủi lòng rưng rức trước mộ bia
Phía triền phố một vừng trăng vừa mọc
Một đóa hoa trên mộ mẹ đầu tiên”.

Khát khao theo đuổi, mong mỏi cái đẹp đã trở thành thường trực ở nhà thơ Nguyễn Tấn On. Rất nhiều câu thơ đẹp, hình ảnh tinh tế được cảm nhận, chắt chiu đưa vào tác phẩm để sẻ chia. Bốn câu thơ đầu trong bài “Ngày rừng” là một ví dụ:

“Ngồi nghe nắng trộn giữa chiều
Vạt mây lửng thửng phong rêu chốn này
Ngọn đồi gió lặn vòm cây
Rừng xanh hoang triết căng đầy tự do”

Hay:

“Tình xưa về trú mái hiên
Gió long đong núi cong miền cỏ hoa
Cơn mưa phố núi la đà
Lạc vài chiếc lá nghiêng tà huy bay”
(Cơn mưa phố núi và tôi)

“Bên kia đồi có đàn Dê lầm lũi
Nhai bóng chiều – đợi tắm nắng ban mai”
(Bài thơ cuối năm gửi người xa xứ)

“Em đi lễ về đôi tà áo mỏng
Khăn choàng vai núi, núi tỏa mù sương
Nụ cười thơm hương nhẹ hơn tiếng lá
Rớt xuống không mua – Đà Lạt không thu”
(Đà Lạt không thu)

“Gom chút vàng lay, bay tha thướt
Về tặng em-phố cuối dốc Nhà Làng
Gùi cả màu thu không nói được
Gió phiêu mây ru vạt nắng lang thang”
(Màu thu trên đỉnh núi Bà)

Đà Lạt trong thơ Nguyễn Tấn On thấm đẫm tình thương trìu mến bởi “Thành phố của tôi như thành phố của người”. Đà Lạt ấy len nhè nhẹ, lằng lặng vào cõi mơ, lọc qua hồn tình của nhân vật thẩm mĩ giao hòa mĩ cảm. Nguyễn Tấn On nương theo từng nhịp thở của Đà Lạt, tinh tế với từng satna thời gian, mẫn cảm với từng bước sóng không gian. Trong thơ anh khá nhiều hình ảnh mềm mại, mảnh mai và khiêm cung. Thông qua cách dụng ngôn ngữ, anh đạt được điều này. Đó là chiều “nghiêng”, “buông chầm chậm”, “ngẩn ngơ”; là mưa trưa “phiêu bồng”; nắng “so le”, nắng “mong manh vỡ”; hoa “tim tím”; hương “lành lạnh”; sương “bềnh bồng”. Đó còn là “cong cong giữa mùa quang gánh”, “lạnh buông”, “rơi nỗi nhớ”, phố “trong veo”, dốc “hiền hòa”, “quanh co”… Nhưng tuyệt nhiên không là cõi vô định, vô hình. Đà Lạt của Nguyễn Tấn On hiện hữu những gam màu tươi tắn, lấp lánh từ nhiều cung bậc. Thành công đó nhờ kết tinh bằng một cuộc sống đong đầy tình yêu thương. Trìu mến và trân quý lắm, một Đà Lạt, một hồn thơ!

MINH ĐẠỌ

Posted in Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

TÔI LÀ CON CHÓ NHÀ QUÊ Thơ Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 04/01/2018

TÔI LÀ CON CHÓ
NHÀ QUÊ

Con gà vươn cổ bắt sâu
Cây xanh màu tết vườn trầu mẹ quê
Đã lâu ở phố – lần về
Tiếng con gà trống rủ rê gọi ngày

Không rượu mà lòng cũng say
Gà quê vườn rộng – không hay bươi nhà
Dòng sông cong nét thật thà
Em ngồi giặt áo vo tà nắng xuân

Bếp quê tro, khói gian truân
Lửa reo tiếng cũi quây quần ấm êm
Cháu con về mẹ vui thêm
Cha vung nắm lúa, không quên đàn gà.

Vừa về đến ngõ quê nhà
Con Vàng đốm trắng chạy ra cổng chào
Sủa mấy tiếng – đưa chân cào
Chạy quanh hàng xóm để rao xuân về

(Tôi là con chó nhà quê)
Mẹ tôi mắng vậy, tôi thề – không thêm.
NGUYỄN TẤN ON

Posted in Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

“RỜI QUÊ RA PHỐ NẮNG NGỜ NGỢ QUA” Nhà thơ Thanh Thảo viết về tập thơ ” Hồn Quê” của nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 30/11/2017

Tập thơ “HỒN QUÊ” của Nguyễn Tấn On

“ RỜI QUÊ RA PHỐ NẮNG NGỜ NGỢ QUA”

Một câu lục bát thật hay, mà cũng thật chính xác. Cái nắng nơi phố phường ấy có phải cũng là cái nắng ở quê mình? Ngờ ngợ thôi, mà ngờ ngợ là phải. Nguyễn Tấn On trong những dòng thơ nghiêng rất nhiều về tâm cảm của mình đã không hề quên gốc gác một người nhà quê, một người Quảng Ngãi, một đứa con của sông Trà được nuôi lớn lên từ gánh don của Mẹ:
“ Gánh don mẹ gánh đất trời
Nuôi con ăn học một thời đó đây
Rung rung chạm gánh don gầy
Mẹ không còn nữa ui đầy nhớ thương” (MẸ VÀ GÁNH DON)
Vẫn còn nhớ đến cặp ui đựng don, là đã mang theo dù xa ngút ngát lên phương nào cái hồn cái vía của Quảng Ngãi quê mình. Một nhà thơ có thể vượt ra ngoài một quê hương, nhưng không nhà thơ nào không có một quê hương, hay từ chối một quê hương. Tôi từng nghe, có một số người Quảng Ngãi khi vào hay ra thành phố lớn, làm quan hoặc bán buôn thành đạt, thường ngại ngần khi phải nhận quê hương mình, thậm chí có người còn cố gắng “ đồng hóa” với giọng nói thành phố, cố xóa đi những vết bùn quê mùa trong cách cư xử hay trong văn phong của mình. Liệu đó có phải là những người thực sự thành công, thật sự thành đạt? Tôi không nghĩ như vậy. điều đó làm nên vẻ rung cảm riêng của nhà thơ những người Quảng xa xứ, cũng làm nên phong vị riêng của thơ Nguyễn Tấn On.
“ Oằn thân sương sớm em tát nước
Lúa đã ngậm dòng căng ngực xưa” (TIẾNG QUÊ)
Người đã viết được câu thơ ấy, hẳn không thể quên gốc gác của mình. Tôi cứ chìm dần, chìm dần qua từng bài thơ bình dị của On, với những câu thơ không dễ dãi mà lại thân gần:
“Mõ rừng gõ ngập ngừng
Mắt nai ngơ ngác cạ sừng vào sương”
Hay:
“ Núi ngồi cắt nửa vầng trăng lạnh
Như gã thiền sư giữa trần gian” (NÚI)
Không căng cứng, không lắm lời, không tỏ ra bảo thủ hay cách tân, thơ Nguyễn Tấn On là thơ tự nhiên của nữa muốn bày tỏ, lại nữa như ngại ngần. mỗi lúc thoát ra ngoài công việc, người làm thơ này lại như muốn trôi hun hút về quê nhà, hun hút trôi về tuổi thơ, nghĩa là trong chốc lát trôi về hiện tại của mình. Những dòng thơ khi đó chợt đến, những hình ảnh tưởng đã mờ khi ấy chợt hiện, và bài thơ cứ thế được hoàn thành:
“ Gánh chung một mớ rau vườn
Nghe thương tiếng gióng trên đường làng quê
Chợ quê bạc nhỏ không chê
Nấm rơm một rổ cá trê còn bùn
Chợ quê mái rạ đập đùn
Nắng soi nón vá mưa luồn áo tơi”
(CHỢ QUÊ)
Những hình ảnh cứ như quá xa xưa mà sao sống động, mà sao tha thiết trong hồn một người xa quê. Không phải chỉ cái khổ cái nghèo mới khiến ta xúc động, mới làm nên thơ. Nhưng quả tình, thơ Việt Nam mình không nên thoát, không thể thoát khỏi thân phận nhân dân mình, nhất là thoát khỏi cái nghèo ở quê nhà, ở nơi mình chôn nhau cắt rốn. dẫu bây giờ mình đã giàu có, đã sung túc, thì một khi chợt dào lên nỗi nhớ Cha Mẹ xưa nghèo khổ, nhớ quê xưa “Con cá bống vùi cát nhột bàn chân”, cái cảm giác ấy sẽ khiến ta như thiếu đi một chút gì, ngay cả lúc ta ngỡ đã đủ đầy. mà thơ lại luôn “ăn” vào cái phần thiếu ấy trong tâm hồn người, luôn cư trú trong cái phần không thỏa mãn, cái phần khắc khoải đến kỳ lạ, đến vô lý của con người.
“Ngơ ngác nhìn lẩn thẩn chiếc ba lô
Gió thật lòng từ bãi mía nương ngô
Chim xáo nhảy thuyền xưa nằm úp mặt” (PHÍA SAU)
Có thể viết nhiều hình ảnh khác khi người lính trở về, nhưng chỉ cần một chi tiết “nhìn lẩn thẩn chiếc ba lô”, ta tức khắc hình dung đúng cái bơ vơ. Cái ngơ ngác của người lính tay không trở về từ chiến trường, khi quê nhà thì vẫn thế nhưng chưa chắc còn chỗ cho mình. Nguyễn Tấn On có thể đã rời quê từ một một hoàn cảnh gần như thế, chính vì vậy, quê hương trở thành nỗi day dứt. Đã có những con người không thể sống được ở quê mình, nhưng không vì thế mà họ thanh thản khi bái biệt quê cha đất tổ. Bây giờ đây, thơ như một kiểu trung gian để người làm thơ đánh đường về quê mình. Nhưng quê nhà thơ ở đâu? Không dễ trả lời câu hỏi này. Khi một người đang ở quê như Quang Dũng mà cứ làm thơ đâu đáu nhớ “quê nhà”, thì quê của nhà thơ nhiều khi cũng là một cõi u minh khó định danh. Tôi mừng khi đọc thơ Nguyễn Tấn On, không hẳn anh là người đồng hương với tôi, tôi mừng vì tìm được trong nhiều câu thơ của anh một chút quê hương dường như thất lạc của chính mình. Ô hay, nhưng tôi đang ở ngay quê hương mình cơ mà? Vậy đó.
Quảng Ngãi tiết Thanh Minh, năm con Dê
Nhà thơ THANH THẢO

Posted in Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

NGUYỄN TẤN THÁI Viết.”ẨN NGỮ – SÁNG TẠO TRONG ( PHƯỢNG XƯA Của Nguyễn Tấn On )

Posted by thinhanquangngai1 trên 16/10/2017

NGUYỄN TẤN THÁI VIẾT. ẦN NGỮ SÁNG TẠO – TRONG PHƯỢNG XƯA CỦA NGUYỄN TẤN ON

ẨN NGỮ-SÁNG TẠO TRONG
“PHƯỢNG XƯA” của Nguyễn Tấn On

Hiện tại trong cuộc sống tất bật đời thường vẫn còn có những con người miệt mài với từng trang viết, kham khổ, đánh vật với từng câu chữ văn chương, trăn trở với từng gam màu, nét bút, thâu đêm với từng dòng nhạc, hợp âm…là một điều đáng quý, đáng trân trọng .Trong số những con người đáng quý ấy có nhà thơ Nguyễn Tấn On, tác giả của “Phượng xưa”.Tôi chưa hề trực diện gặp anh, chưa từng thẩm định văn chương cùng anh. Chỉ gặp nhau qua những bài thơ in trên các tạp chí và sự hạnh ngộ qua tập “Phượng xưa” (NXB Vănnghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001)
Tập “Phượng xưa” gồm 50 bài và một nhạc phẩm “Chiều Đà lạt”(do Phạm Anh Trung phổ thơ Nguyễn Tấn On).Độ dày của tập thơ vừa phải đủ để người đọc cảm thức phần nào nỗi niềm thi nhân gởi gắm trong đó.
Tôi không có ý định trình bày suy nghĩ của mình về toàn bộ các khía cạnh ẩn chìm trong tác phẩm, chỉ xin giải bày đôi nét về ẩn ngữ sáng tạo qua thi tập này.
Với bài mở đầu “Tiếng thời gian”, tác giả nhẹ nhàng diễn tả bước đi thời gian từ
chiều tà dịch chuyển sang bóng tối của một ngày qua hình ảnh người em “ cầm vạt nắng” chiều .Người em ấy hờ hững đánh rơi một hồi chuông giáo đường trong chiều lấp lóa nắng xuân. Nguyễn Tấn On sử dụng các biện pháp tu từ, từ vựng ( nhân hoá, ẩn dụ, cường điệu…) một cách tự nhiên, thuần thục nhằm chuyển đổi ý nghĩa thực-thường dùng của từ ngữ sang nét nghĩa ẩn- mới lạ hơn để diễn tả những biến thái tinh tế của tâm tư, tình cảm nhân vật trữ tình.
MÙA ĐẦU. HẠ. ĐÀN PHƯỢNG . NGHIÊNG MÙA… đêm đến cho người những tiếp nhận thú vị lạ lẫm, những biến thái tinh vi của một hồn thơ đa chiều cảm xúc.
Tiếng trống trường thường gợi cho người tiếp nhận ẩn dụ cảm giác về âm thanh bỗng trở nên cụ thể hơn, có hình khối hơn khi tác giả dùng ẩn ngữ sáng tạo :

Bâng khuâng
Vấp tiếng
Trống trường
Hồn ta té ngã
Hạt sương đầu mùa

Tương tự như thế, người cảm thụ thơ dễ dàng rung ngân, thấy là lạ bởi lối diễn tả linh diệu, uyển chuyển”Giật mình rớt một tiếng ve, nghiêng mùa” .”Phượng về vá lại chỗ nằm” và “Búp tay nắm vội.mắt chiều đỏ hoe” .
Tác giả chọn một góc quan sát nhạy cảm và cố gắng phát hiện, nắm bắt trong những mảng màu, hình ảnh bình thường hằng ngày cái “chất thơ” ,” chất nhạc”:

“ Trời mưa ướt cả tiếng chuông
Ướt bông phượng tím ướt nguồn thơ tôi”

Không rõ bông phượng tím bị ướt mưa, hay tiếng lòng thi nhân đang ướt sũng nỗi niềm do MÙA PHƯỢNG TÍM đem lại . Chính “nguồn thơ” bị ướt sũng ấy đã bật lên âm điệu chan hoà cùng tạo vật nhiên thiên” Mây qua phố nhỏ bỗng đùn . Hoàng hôn cũng mất nắng dừng vai thơm”.
Đọc thơ Nguyễn Tấn On ít thấy mệt mỏi, choáng ngợp vì những triết lý khô khan giả tạo, xa lạ với con người mà ta thường gặp trong một số thơ ca manh nha xuất hiện ( hay thơ ca ấy quá cao thâm, người đọc khó đủ trình độ tiếp
thu!) . Trái lại, những gì gần gũi, cụ thể diễn ra xung quanh, qua lăng kính thẩm
mỹ của nhà thơ, trở nên lấp lánh chất thơ, lôi cuốn độc giả . Có lẽ, LỜI ĐÁ là bài thơ ẩn chứa triết lý sâu xa( nhưng không cầu kỳ, bí hiểm) về mối quan hệ giữa “hồn sông”,“hồn suối” và thân phận hiện hữu của con người trong vũ trụ bao la tiềm tàng nhiều điều kỳ diệu chưa được khám phá:

Ta chỉ là đá cuội
Lăn vào hồn mai sau
Ngày có vội qua mau
Ta vẫn mang hồn núi
Mai cạn qua con suối
Ta ôm bờ cỏ lau…

Những dòng nhạc sâu lắng, đầy chất suy tư của Trịnh Công Sơn bất chợt sống dậy trong hồn tôi qua lời thơ “lốc xoáy” của Nguyễn Tấn On “…từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe” và “ Lại thấy trong ta hiện bóng con người” Không biết giữa hai con người từng sinh ra, trưởng thành trong thế kỷ XX này có một sự hoà điệu, Giao cảm nào khác, ngoài văn chương và âm nhạc ?

“Giữ dùm một chút nắng
Cho ấm bờ hoang vu”

“Chút nắng” mà anh nhắn gởi, chúng tôi sẽ thay anh giữ hộ và ấp ủ mãi nó trong lòng khi đọc thơ Nguyễn Tấn On.Đôi lúc đọc thơ anh, tôi liên tưởng mình đang đứng trên bờ hồ Xuân Hương, hồ Than Thở. Trên bờ, nhìn thoáng qua, chỉ thấy sóng lăn tăn trên mặt nước. Nhưng muốn thưởng thức cái đẹp kỳ vỹ, ta thử lặn sâu vào đáy hồ lục sạo, tìm kiếm trong ấy có những bí ẩn hấp dẫn nào.
Tôi đã không hoài sức, phí công khi sục sạo trong đống câu chữ “Phượng xưa” để tìm ra tinh thể lóng lánh sắc màu:

“Sớm mai Chiêm nữ lên đền hát
Chân múa chạm mòn đất, gạch, vôi”
( Hành hương )
Em sơn nữ gùi bóng chiều xuống phố
Khu Hoà Bình chùm phượng tím rưng rưng
(Chiều Đà Lạt)

Ắt hẳn vũ điệu Chăm lưu dấu tích trên đền đài, cổ tháp khiến hồn thơ xáo động mãnh liệt đến độ”chạm mòn đất, gạch, vôi” trêntường xưa, vách cũ.Một Xuân Diệu táo bạo, nhân văn khi gợi cảm “Tháng giêng ngon như một càp môi gần”. Còn Tấn On lại đằm thắm, trữ tình khi cảm được mùi “thơm lừng hương cây cỏ”, “ cười nụ tháng giêng”, nghe “tiếng tách vỏ đâm chồi”.” hạt trổ mùa bông” của “ Tháng giêng“ mở đầu năm mới.Không chỉ giao cảm với cuộc sống- con người, không chỉ dự cảm về tương lai- thời sẽ đến,thơ của tác giả “Hồn quê” dấn thân đào xới , khai thác cách thể hiện khác lạ,buộc người đọc ngẫm nghĩ, suy tư tìm ra ẩn số dưới bề mặt chữ, câu.“Hồn cát” là minh chứng cho hướng khai phá mới này:

“Gió xô bỏng xước cành thương
Trổ hoa giữa cõi vô thường cát ơi”

Ngọn gió- vô thường trong cõi thế tục khiến thi nhân rát bỏng nỗi thương đời, thương mình. Đêm về bên “rượu tràn ly”, thi sĩ đắm chìm trong nỗi nhớ về “tháp Hời sử thi”, về”mắt ai hoang dại”…để hồn thơ”trổ hoa giữa cõi đời thường”
Lần theo từng trang thơ “Phượng xưa”, ta cũng dễ bắt gặp kiểu ẩn ngữ sáng tạo mà người con đất Quãng Ngãi dụng công thể hiện . Đó là “Dáng em mềm như lửa” .”Núi và biển thực lòng như lửa”. Và đó cũng là:

“Em dậy thì đắp mảnh trăng Vỹ Dạ”
Tôi không dụng ý đi sâu mổ xẻ, phân tích tỉ mỉ cái hay, cái đẹp của từ ngữ thơ, hình ảnh thơ trong “Phượng xưa”. Chỉ mong muốn góp chút thành tâm đối với người bạn thơ cư ngụ nơi xứ sương mù – Đà Lạt. Hy vọng bài viết như một sự tri âm của kẻ trót lỡ yêu thơ ca, chân thực bày tỏ một đôi điều.

Nguyễn Tấn Thái

Posted in 04. Bài viết, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Nhà thơ Đoàn Vỵ Thượng viết về Nguyễn Tấn On

Posted by admintnqn trên 10/10/2017

THƠ TẶNG NGƯỜI Của Tác giả: NGUYỄN TẤN ON

Tính cách Nguyễn Tấn On cởi mở, chân tình, pha một chút đĩnh đạt. Nhưng tôi thấy sự đĩnh đạc nơi anh là ở dạng tự nhiên; anh không hề ý thức chút gì về nó. Giống như cái thanh khí vô hình có sẵn nơi một con người vậy. Và dường như thơ anh cũng thế chăng? Tôi nhận ra một vẻ đỉnh đạc, một khí chất thơ có phần thanh thoát ” lót nền ” phía sau những câu chữ dù có lúc rời rã, phiêu bồng như muốn phơi bày hết thảy, lại có lúc dè dặt, cẩn mật như chỉ để ủ kín những niềm riêng lặng lẽ.
Con người cũng sống chết như cỏ cây. Và cũng giống như cây cỏ, gió qua thì” tự cất bao lời “. Thơ Tặng Người cũng đã cất thành giấy mực, để được gửi đi, với một cái tên từ tốn mà trang trọng: Nguyễn Tấn On.

Posted in Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

ĐÀLẠT KHÔNG THU Thơ Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 17/08/2017

ĐÀ LẠT KHÔNG THU

Đêm tôi về – Đà Lạt
Không đèn xanh, đèn đỏ
Mà sao tôi – dừng lại trước ngõ nhà ai
Ngõ nhà ai – có chùm hoa tim tím
Vườn nhà ai – thả tóc những sợi mưa
Cúi xuống cho vừa tiếng chuông rỉ sét
Âm ấm tình róng riết thịt da
Em đi lễ về đôi tà áo mỏng
Khăn choàng vai núi, núi tỏa mù sương
Nụ cười thơm hương nhẹ hơn tiếng lá
Rớt xuống không mùa – Đà Lạt không thu

Chỉ vậy thôi – Đà Lạt
Chỉ vây thôi.

NGUYỄN TẤN ON

Posted in 01. Thơ, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Về Thu Xà thăm trường – thơ Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 28/07/2013

Về Thu Xà thăm trường

Bãi Dừa xỏa tóc bên sông vắng
Quán lắc lư người, sóng lắc lư trăng
Ở phía “Vực hồng” mù sa sương trắng
Nhớ sân trường chật ních – áo dung dăng

Thu Xà ơi ! bao học trò xa xứ
Qua một thời chinh chiến – trường tản cư
Chỉ có “Vực Hồng ” còn ở lại
Trường dắt dìu lên -“Núi Hùm” định cư

Nay ta về tóc pha màu rượu đế
Tiếng khui lon “Dung Quất” chạm mái dừa
Bằng hữu – nâng cốc – hô rồi cụng
Gõ vào sông – vang vọng những hồn thơ

Đêm ngất ngư, nghĩa tình sâu hố mắt
Mõ “Chùa Ông” văng vẳng cõi đi về
Bờ lau – sương no đầy tiếng dế
Trăng tài hoa soi sáng – mồ Bích Khê

Nguyễn Tấn On
(BÁO QUẢNG NGÃI Cuối Tuần
Số 3365, ra ngày 19/07/2013)

Posted in 01. Thơ, CB7, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Mẹ với cơn mưa cao nguyên – Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 28/03/2013

MẸ VỚI CƠN MƯA CAO NGUYÊN
(Tặng: Vợ chồng Lê Thi)

Đêm Buôn Hồ* nóng lên từng cây cỏ
đất Bazan hừng hực bốc mùi khô
Mẹ lặng thầm bên chiếc Radio
nghe thời tiết, tế bào da cạn nước
phổi hao mòn
dịch tiết ra
không cầm được
vẫn ung dung Mẹ khao khát
một cơn mưa
một cơn mưa làm mền đất
thơm vườn
một cơn mưa bung trắng xỏa
yêu thương

Mẹ cùng chiếc Radio một thời
Cha để lại
đỉnh mùng chùng xuống đêm rơi
lại vụt sáng
võng khoảng đời hoài niệm
đêm cao nguyên
trăng ngút cao vời vợi
hương phong lan và thơ
bạn bè cùng con đang đọc
cửa sổ mở lòng
lọt vào phòng mẹ
đêm nay

dịch trong phổi mẹ tràn ra
rồi dừng lại
bởi ngoài kia mưa và thơ
trút xuống cao nguyên
lá phổi xanh tươi
qua miền gió bụi
bình yên

Nguyễn Tấn On
(Buôn Hồ đêm 20/3/2013.
Đến thăm Mẹ của Lê Thi
 bị tràn dịch màng phổi.)

Posted in 01. Thơ, CB7, Lê Thi, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Nguyễn Tấn On – Những vần thơ thấm đẫm hồn quê

Posted by thinhanquangngai1 trên 13/01/2013

Nguyễn Tấn On – Những vần thơ thấm đẫm hồn quê

* Lê Ngọc Trác

hinh_nguyentanon-baiviet-lengoctrac“Nhớ quê vấp vạt cỏ may
Tổ chim Dồng Dộc làm giày đá banh

Đồng dao con chim manh manh
Cây đa chú Cuội trên cành cây sung

Sân đình gõ trống thùng thùng
Cơm sôi lệch chiếc nắp vung lửa cười

Lúa vàng thơm nắng hạt tươi
Mẹ sàng, mẹ sảy trên mười ngón tay

Cánh diều lộng gió mây bay
Ở quê, mơ thấy giữa ngày, nhớ quê”

(Trích trong tập thơ “99 bài lục bát” của Nguyễn Tấn On)

Chỉ với 10 dòng thơ lục bát ngắn gọn, cô đọng, Nguyễn Tấn On đã nói lên nỗi lòng của mình trong những ngày về thăm lại quê hương. Trong chúng ta ai cũng thế. Xa quê. Nhớ quê. Mong một ngày trở về nơi thân yêu. Ấy thế! Mà ngày về, nhìn dòng sông, nhìn Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB1, Lê Ngọc Trác, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Nguyễn Tấn On – người mê đắm thơ ca

Posted by thinhanquangngai1 trên 19/12/2012

NGUYỄN TẤN ON, NGƯỜI MÊ ĐẮM THƠ CA
(Đọc 99 bài lục bát, Nxb Văn học,  2012)

@ TRẦN HOÀNG VY

     Góp mặt trong 33 tập thơ in chung trong cả nước và có riêng cho mình 7 tập thơ, Nguyễn Tấn On quả đúng là người “Mê đắm thơ ca!”

     Mới gặp On ở Đà Lạt, phấn khởi ký tặng tôi tập thơ song ngữ (Việt – Anh) Thoát nắng xuất bản năm 2010, thì hay tin Nguyễn Tấn On bệnh hiểm nghèo phải vào bệnh viện chữa trị và phẩu thuật. Lần gặp On mới đây nhất là tháng 3/ 2012, On vừa mới ra viện, sắc diện rất xấu, thương On và lo ngại cho bạn… song Nguyễn Tấn On đã chứng tỏ quyết tâm và nghị lực, dù biết mình mang căn trọng bệnh, qua việc cho phát hành tiếp tập thơ 99 bài Lục bát với lời giới thiệu của Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB7, Nguyễn Tấn On, Trần Hoàng Vy | Leave a Comment »

Vu vơ – mùa đông/ thơ Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 28/11/2012

VU VƠ – MÙA ĐÔNG

Sân bay Liên Khương vàng đồi nhớ
Phi trường chạm bánh gió ta về
Sẻ nâu mổ nắng tròn đôi mắt
Ta vu vơ ngóng mái tóc thề

Mười năm ta biệt mù phố lạnh
Mười năm phố vẫn đẹp như tranh
Mười năm mắt biếc hồ Than Thở
Mười năm ta gói giấc mơ lành

Buổi về đứng giữa ngày Đà Lạt
Nhìn nắng đi qua vườn nhà ai
Lòng nghe là – lạ mùa khang – khác
Vu vơ em – vu vơ thở dài

Vu vơ – ta nhặt chiều bỏ túi
Đụng vào sương khói dính nhựa thông
Xe đạp đôi – một mình leo dốc
Phia sau ta chở cả mùa đông

Nguyễn Tấn On

Posted in 01. Thơ, CB7, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Nói với Lâm Anh – Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 28/10/2012

NÓI VỚI LÂM ANH

Thuyền chở nặng dòng sông đi lộn ngược
Cá Bống buồn vùi vào cát sủi tăm
Chúa đã chịu nỗi roi bầm thịt đỏ
Lòng đại dương sá gì rét căm căm

Chiếc áo cũ đốt trầm hòa chung rượu
Uống cạn khuya cho ló mặt bình minh
Chiến tranh qua một thời bom đạn thúi
Cuốc lên nghe nương rẫy hòa bình

Mùa chuyển mùa đẩy cơn giông hất núi
Đứng trên đồi ngửa mặt dưới mưa tuông
Tôn-ngộ-không, mũ kim cô thoát núi
Là Ngô Thừa Ân tự đốn ngộ vui buồn

Ngồi ở núi nghe Sông Trà chảy ngược
Vào đất Phù Nam Di Chỉ Cát Tiên
Bao nhiêu năm quán núi vắng bạn hiền
Lòng như núi nên rượu sôi bạt gió

Về cố quận – chỗ cũ ngồi – mắt đỏ
Bạn hữu đâu! mây ngược chiều quá giang
Hồn xa xứ phủ tiếng chuông Thiên Ấn
Thiên Bút xanh – thơm ngát mực tràng giang.

Nguyễn Tấn On

Posted in 01. Thơ, CB1, Lâm Anh, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Lục Bát – Chiếc nôi đưa của những tâm hồn thuần Việt

Posted by thinhanquangngai1 trên 10/07/2012

Lục Bát – Chiếc nôi đưa của những tâm hồn thuần Việt

* H.MAN

 

Nhị cú tam niên đắc

Nhất ngâm song lệ lưu

Tri âm bất đồng thưởng

Quy ngọa cố sơn thu

                                   (Giả Đảo)

 

(Ba năm nghĩ được hai câu thơ vừa ý. Ngâm lên một lần đổ hai hàng nước mắt. Không có người tâm đắc đồng thưởng lãm. Về mà nằm ở núi thu xưa).

Cái “núi thu xưa” của Giả Đảo nằm ở đâu? Phải chăng đó là nơi chốn để tìm về, để khắc khoải, để nhớ nhung? Một cõi miền trong cõi miền khác, mà mùa thu nhuộm vàng tâm hồn hầu hết những thi nhân. Tự trong tâm hồn nhà thơ đã có cái mùa thu ấy, cái cõi ấy: – cõi thơ – Thơ lục bát cũng vậy.

Người làm thơ không bận tâm tra vấn Thơ lục bát có từ bao giờ, ảnh hưởng đến Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB7, H'man, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

99 bài lục bát – tập thơ Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 08/07/2012

Người “mê thơ đắm đuối” và “99 bài lục bát”

 Trong bài thơ “Say” Nguyễn Tấn On tự nhận mình là người “mê thơ đắm đuối”. “99 bài lục bát” –  tập thơ  thứ 7 của anh, minh chứng cho điều đó. Đọc tập thơ này tôi cứ nghĩ đến… Bùi Giáng. Không biết có mối dây liên hệ tinh thần nào với nhà thơ tiền bối cùng người xứ Quảng không mà anh rất gần Bùi thi sỹ ở cái sự “dễ” làm thơ. Mai Thảo đã ca tụng: “Bùi Giáng ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ”. Nguyễn Tấn On có thể làm thơ bởi duyên cớ nhẹ như gió thoảng, mây bay. Bên cạnh đó là những bài thơ da diết tình quê, thương cha, nhớ mẹ. Quảng Ngãi chôn rau, cắt rốn và Đà Lạt Hoa quê hương thứ hai trong thơ anh có vẻ đẹp riêng không lẫn vào ai. Tôi nhớ mãi hình ảnh Đọc tiếp »

Posted in 06. Giới thiệu sách, CB7, Nguyễn Tấn On | 1 Comment »

Nỗi buồn đánh rơi – thơ Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 22/05/2012

Nỗi buồn đánh rơi

Từ trong nỗi nhớ Sông Trà
Tiếng chuông Thiên Ấn la đà mặt sông
Bạn giờ còn nhớ hay không
Một thời lang bạt cửa Đông la cà

Rượu nghiêng Thạch trận La Hà
Sóng dòng Sông Vệ vỗ tà huy say
Về Thiên Bút ngắm mây bay
Trống trường Nghĩa Thục* chia tay mái trường

Bao năm lận đận tha phương
Miếng cơm cầu thực xứ sương mù và
Hoa vàng mấy độ thi ca
Nhớ quê mây trắng chiều Đà Lạt buông

Buổi về Quảng Ngãi mưa tuôn
Xuống xe bước trợt nỗi buồn đánh rơi

Trường Quảng Ngãi Nghĩa Thục xưa
Nay là trường Đại học Phạm Văn Đồng.
Dưới chân Thiên Bút.

Nguyễn Tấn On

Posted in 01. Thơ, CB7, Nguyễn Tấn On | 2 Comments »

Chiều mưa thăm nhau – thơ Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 26/03/2012

Chiều mưa thăm nhau

Tặng họa sĩ Phương Nam

Đến thăm nhau mưa lầy qua lối nhỏ
Bên hiên nhà anh ngồi vẽ chân dung
Mái rạ nghèo đùn lên bao lớp mục
Nắng soi tranh mưa dột ướt chỗ nằm

Chị vắng nhà bé Hà ngồi đun nước
Vách tường xiêu sáng rực bức “Vươn lên”
Trà ba chung ấm môi tình nghệ sĩ
Cây sung đầu hè trổ nụ sang đông

Gió trong mưa, đời trong đôi kính trắng
Tuổi tuy già hồn vẫn đẹp như mơ
Tôi đọc thơ, mình vui chung điếu thuốc
Mưa tạnh rồi sáng dậy ở Phương Nam.

Sông vệ 12/10/1979
Nguyễn Tấn On

Posted in 01. Thơ, CB7, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Về quê (thơ Nguyễn Tấn On-giọng ngâm Lan Hương)

Posted by thinhanquangngai1 trên 12/01/2012


This audio file uploaded at https://www.dropbox.com

Xem bài thơ: Đọc tiếp »

Posted in 02. Tiếng thơ, CB7, Lan Hương, Nguyễn Tấn On | 3 Comments »

“Về quỳ trước hoa” của Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 23/12/2011

“Về quỳ trước hoa” của Nguyễn Tấn On
Tác giả: Khánh Ly

Về quỳ trước hoa
(Chào mừng Festival Hoa Đà lạt 2012)

Về ngang quán úa bên đồi
Vạt xưa vàng lạnh thả trôi sương mù
Thõng tay lá, quấn quít thu
Gió lao đao níu trăng tù và nghiêng

Môi rừng tóc núi gùi duyên
Mặt hồ lún nụ đồng tiền chao đêm
Hừng hực lửa, hừng hực em
Suối mềm theo nắng, ta mềm theo hoa.

Ta về thăm phố núi và…
Dăm ba thằng bạn la cà ngày xưa
Đêm tỳ chén rượu đổ mưa
Một mùa phượng tím cũng vừa thôi nôi

Ta về nằm xuống khoảng đồi
Bụm tay uống nắng qua môi dã quỳ
Trên đầu mây trắng mùa đi
Lòng mênh mông quá về quỳ trước hoa

Nguyễn Tấn On

(Hội viên Hội VHNT Lâm Đồng)

Trong cuộc sống hàng ngày, có những thứ khiêm tốn, lặng lẽ đi bên đời, tô điểm, làm đẹp cho đời không đòi hỏi, yêu cầu, nhưng đôi khi con người lại vô tình lãng quên. Có một loài hoa đã âm thầm dâng hiến như thế. Và chính sự Đọc tiếp »

Posted in 03. Bình thơ, 04. Bài viết, CB7, Nguyễn Tấn On | Leave a Comment »

Đôi bài thơ của Nguyễn Tấn On

Posted by thinhanquangngai1 trên 19/11/2011

Viết tặng
Người cùng thời

* Kim Nguyên

Và cũng như thúng mủng
ế ẩm giữa chợ chiều
em buồn thiu quảy gánh
nợ nần, chồng, con yêu

xe đạp cũ vào phố
quay về bóng liêu xiêu
đỡ đần em, anh bán
thơ, càng thêm ế nhiều

nhìn nhau qua đôi mắt
cười đau lòng ruột gan
em luộc khoai ế ẩm
anh đọc thơ giọng khàn

giữa bộn bề tất bật
bán mua thật gọn gàng
rồi mai thúng mủng chật
tiếng mùa xuân rộn ràng

Khúc mưa
hôm vợ về quê

em gùi nỗi nhớ về Hà Nội
ta đứng nhìn Đọc tiếp »

Posted in 01. Thơ, CB7, Nguyễn Tấn On | 1 Comment »